vanban.org

Bản án 796/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/05/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết s…

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không tr…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết s…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 796/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 28/5/2021.
Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mạnh Đoan Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thực;

Ông Bùi Quang Việt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Danh Đời – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án thụ lý số 152/2021/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2244/2021/QĐXXST-DS ngày 24/5/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Aichi-Ken, Toyota-Shi, Kamekubi-cho, Higashibata 66-1, Nhật Bản, (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1990.

Địa chỉ: 187/8 đường Bùi Hữu Nghĩa, Phường 1, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai ngày 05/4/2021, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông Nguyễn Văn Nh kết hôn trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã Bình Chương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2011, quyển số 01/2011, ngày 04/01/2011. Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó bà H đi nước ngoài định cư, từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. bà H xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn Nh. Về con chung: bà H khai bà và ông Nh có 01 người con chung tên Nguyễn Vĩnh Khang, sinh ngày 21/7/2011. bà H yêu cầu sau khi ly hôn, bà là người trực tiếp nuôi con và ông Nh phải thực hiện việc cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu Khang trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, bà H đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung Bản tự khai ngày 26/5/2021, bị đơn ông Nguyễn Văn Nh trình bày: ông Nh xác nhận những lời trình bày của bà H về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn và đồng ý yêu cầu của bà H về việc bà H trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Vĩnh Khang, ông Nh cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng mỗi tháng cho đến khi cháu Khang đủ 18 tuổi. Đồng thời, ông Nh đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo Bản tự khai ngày 24/5/2021, cháu Nguyễn Vĩnh Khang trình bày: Nếu Tòa án chấp nhận cho cha mẹ của cháu là ông Nguyễn Văn Nh và bà Lê Thị H ly hôn, cháu Khang có nguyện vọng được sống chung với Mẹ là bà Lê Thị H, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Nh và bà H hiện đang cư trú tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Đơn xin vắng mặt ngày 05/4/2021 của bà Lê Thị H đã được hợp pháp hóa lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka, Nhật Bản nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Qua lời trình bày của bà H và ông Nh, có cơ sở xác định: bà H và ông Nh có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2011, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Bình Chương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 04/01/2011, tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Nh là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, bà H định cư ở nước ngoài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết sâu đậm. Do hai bên đang sinh sống và làm việc ở hai nước khác nhau nên không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà H yêu cầu được ly hôn với ông Nh, ông Nh cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của bà H và ông Nh.

- Về con chung: bà H và ông Nh có 01 người con chung tên Nguyễn Vĩnh Khang, sinh ngày 21/7/2011. bà H yêu cầu sau khi ly hôn, bà H là người trực tiếp nuôi con chung và ông Nh cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi cháu Khang đủ 18 tuổi. ông Nh và cháu Khang thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của bà H, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên.

- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà H và ông Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Án phí về ly hôn trong vụ việc hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị H phải chịu; án phí về việc cấp dưỡng cho con là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Văn Nh phải chịu theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: 1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị H, sinh năm 1991 và ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1990. Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2011, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Bình Chương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 04/01/2011 cho bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Nh hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 1.2. Về con chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Nh có 01 người con chung tên Nguyễn Vĩnh Khang, sinh ngày 21/7/2011. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà H và ông Nh về việc giao con chung tên Nguyễn Vĩnh Khang, sinh ngày 21/7/2011 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.

1.3. Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Văn Nh cấp dưỡng cho con 1.000.000 (một triệu) đồng/tháng, việc cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Vĩnh Khang đủ 18 tuổi hoặc đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

1.4. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Lê Thị H phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0094031 ngày 06/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. bà H đã nộp đủ án phí.

- Ông Nguyễn Văn Nh phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Lê Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Nguyễn Văn Nh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ