vanban.org

Bản án 795/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 795/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 27/7/2018
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Phạm Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Bà Nguyễn Thị Ánh Minh

2/- Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Lê – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chi Minh xét xử sơ thẩ m công khai vụ án thụ lý số: 206/2018/TLST-

́ HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị A

Thường trú: 6/1/14/34 đường số V, khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C

Thường trú: 6/1/14/34 đường số V, khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

[[

Theo đơn khở i kiê ̣n, bản tự khai và quá trình tranh tụng tại Tòa bà Đặng Thị A là nguyên đơn trình bày : Bà và ông ông Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn vào năm 2004, có tổ chức hỏi cưới và đăng ký kết hôn vào thá ng 11 năm 2004 tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Long An. Sau khi lập gia đình hai bên sống tự lập. theo bà cuộc sống chung của vợ chồng chỉ hạnh phúc thời gian đầu , đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẩn , nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, ông C thường xuyên đi sớm về muộn, có khi đi nhiều ngày mới về không có lý do, không quan tâm lo lắng và thiếu trách nhiệm với gia đình, hơn nữa lại thường xuyên lớn tiếng từ đó dẫn đến mâu thuẩn nên vợ chồng thườ ng xuy ên cải vã, cuô ̣c sống chung không mang la ̣i ha ̣nh phúc . Đến tháng 10/2017 ông C chủ động bỏ nhà ra ngoài sống và hai bên ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên có tạo điều kiện hàn gắn đoàn tụ nhưng không kết quả, xét thấy tình cảm thực sự không còn , mục đích hôn nhân không đạt được nên bà có đơn khởi kiê ̣n yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 16/9/2005, hiện tại bà đang trực tiếp nuôi con . Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung , việc cấp dưỡng nuôi con bà tự nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Không có.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 26/3/2018 ông Nguyễn Văn C là bị đơn trình bày: Giai đoạn đi đến hôn nhân đúng như lời trình bày của bà Đặng Thị A. Sau khi lập gia đình ông bà sống tự lập , theo ông cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc binh thườ ng đến khoảng đ ầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn ,

̀ nguyên nhân lỗi là do ông thiếu trách nhiệm với gia đình , dẫn đến kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xuyên cải vã , từ đó cuô ̣c sống chung không mang la ̣i hạnh phúc. Kể từ tháng 10/2017 ông chủ động bỏ đi nơi khác sinh sống, thời gian ly thân ông có tạo điều kiện hàn gắn nhưng bà A không đồng ý. Tại Tòa ông xác định tình cảm vẫn còn, ông không đồng ý ly hôn, và xin được đoàn tụ gia đình, ông cam kết sẽ khắc phục sữa chữa những thiếu sót trong thời gian qua.

Về con chung : Có một người con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 16/9/2005. Hiện nay người con chung đang sống với bà A, tuy nhiên nếu phải ly hôn thì ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung và không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Không có.

[Tại phiên Tòa bà A xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc , mục đích hôn nhân không đạt được , do đó bà vẫn giữ yêu cầu đ ề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

[Về con chung : Bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung và tự nguyện không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Không có.

Ông Nguyễn Văn C là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa

giải quyết vu ̣ kiê ̣n nhưng ông C vẫn vắng mă ̣t không có lý do , theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, về tuân theo pháp luật: Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, về thụ lý vụ án, ra thông báo thụ lý vụ án , ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục của pháp luật quy định . Về nô ̣i dung vu ̣ án đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u , chứ ng cứ có trong hồ sơ vu ̣ án được thẩm tra ta ̣i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh.

[1] Bà Đặng Thị A và ông Nguyễn Văn C tự nguyê ̣n kế t hôn vào năm 2004 có hỏi cưới và có đăng ký kết h ôn, theo chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01 ngày 15/11/2004 do Uỷ ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Long An cấp là cơ sở xác định hôn nhân hợp pháp , được pháp luật công nhận . Ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại 6/1/14/34 đường số V, khu phố X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh, đờ i sống chung của vợ ch ồng không hạnh phúc, bà A là một bên đương sự , có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quâ ̣n Thủ Đứ c, theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị A, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy:

[Bà Đặng Thị A và ông Nguyễn Văn C tự nguyê ̣n kết hôn vào năm 2004, cuô ̣c sống chung của vợ chồng ha ̣nh phúc được thời gian đầu , kể từ đầu năm 2017 trở đi thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chinh theo lờ i trinh bày của hai

́

̀ bên đương sự là do đôi bên bất đồng quan điểm sống, ông C thiếu trách nhiệm với gia đình, từ đó dẫn đến cuô ̣c sống chung không mang la ̣i ha ̣nh phúc. Kể từ tháng 10/2017 cho đến nay cả hai đa sỗ ́ng ly thân , thờ i gian ly thân ông C có tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình nhưng bà A không đồng ý. Căn cứ vào biên bản hòa giải tại Tòa án ông C xác định tình cảm vẫn còn, ông không đồng ý ly hôn, và xin được đoàn tụ gia đình, ông cam kết sẽ khắc phục sữa chữa những thiếu sót trong thời gian qua. Do đó Tòa án đã tạm hoãn phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện thêm thời gian để đôi bên hàn gắn gia đình. Tuy nhiên thời gian sau đó cả hai vẫn sống ly thân, mặc dù đã nhận trực tiếp thông báo hòa giải của Tòa án nhưng ông C vẫn không đến tòa để giải quyết và việc vắng mặt của ông C không có lý do, điều này chứ ng tỏ ông C không quan tâm đến viê ̣c yêu cầu xin ly hôn của bà A, từ đó cho thấy thực tế tinh tra ̣ng hôn nhân của đôi bên đa xã ̉y ra nhiều mâu thuẫn , đờ i sống

̀ chung không thể kéo dài , khả năng đoàn tụ không còn , mục đích của hôn nhân không đa ̣t được , xét hiện tại đôi bên đã sống ly thân , viê ̣c bà A có đơn yêu c ầu được ly hôn vớ i ông C là có căn cứ, phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luâ ̣t hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhâ ̣n . Việc ông C xin được được tụ gia đình là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[3] Về con chung: Có 01 ngườ i con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 16/9/2005, sau khi ly hôn cả hai đều có nguyê ̣n vo ̣ng được trực tiếp nuôi con và tự nguyện không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con chung Xét việc nuôi con là thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con chung, tuy nhiên để bảo vệ quyền và lợi ích mọi mặt của người con, Hội đồng xét xử xét thấy nên giao người con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, theo yêu cầu của bà A và nguyện vọng của người con chung là hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế vi hiê ̣n nay ngườ i con

̀ chung đang do bà A trực tiếp nuôi dưỡng, khi có điều kiện ông C có thể đến thăm nom chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục con chung , khi cần thiết có thể thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật , về mứ c cấp dưỡng nuôi con chung bà A tự nguyện không yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện không trái vớ i quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t theo Điều 81; 82; 83; 84 Luâ ̣t hôn nhân và g ia đinh năm 2014 nên được ghi

̀ nhâ ̣n.

[4] Về tài sản chung và nợ chung : Căn cứ vào lời trình bày của bà A, ông C về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung không có nên Hô ̣i đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Luâ ̣t phí và lệ phí năm 2015 bà Đặng Thị A phải nô ̣p 300.000 đ (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi 300.000 đ (ba trăm ngàn) đồng bà A đa nô ̣̃ p theo biên lai thu

́ tiền ta ̣m ứ ng án phi số 0038384 ngày 09/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự

́ quâ ̣n Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Đặng Thị A đa nô ̣̃ p đủ án phi dân sự

́ sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào c ác Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luâ ̣t Hôn nhân và gia đinh năm 2014; ̀

- Căn cứ vào Luâ ̣t phi và lê ̣ phi năm 2015;

́

́

- Căn cứ Nghi ̣ quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu , miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ Luâ ̣t thi hành án dân sự năm 2008 (đa đượ̃

c sử a đỗi bổ sung năm 2014).

Tuyên xử :

1-/ Chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu của nguyên đơn:

a-/ Về hôn nhân : Cho ly hôn giữa bà Đặng Thị A và ông Nguyễn Văn C

b-/ Về con chung : Giao bà Đặng Thị A trực tiếp nuôi dưỡng ngườ i con

chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 16/9/2005. Việc cấp dưỡng nuôi con chung bà A tự nguyện không yêu cầu.

Không ai được quyền ngăn cản viê ̣c thăm nom chăm sóc và giáo du ̣c con

chung, vì quyền lợi mọi mặt của người con khi cần thiết có t hể thay đổi ngườ i nuôi con hoă ̣c mứ c cấp dưỡng nuôi con chung .

c-/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

d-/ Về nợ chung: Không có.

2-/ Về án phi: Bà Đặng Thị A phải nộp 300.000 đ (ba trăm ngàn) đồng án

́ phí dân sự sơ thẩm , nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi 300.000 đ (ba

́ trăm ngàn) đồng bà A đa nô ̣̃ p theo biên lai thu tiề n ta ̣m ứ ng án phi số 0038384

́ ngày 09/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức , Thành phố Hồ Chí Minh, bà Đặng Thị A đa nô ̣̃ p đủ án phi dân sự sơ thẩm.

́

3-/ Quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong

thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án , đương sự v ắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đa đượ̃

c sử a đổi bổ sung năm 2014”; cáNơi nhận:

Cỡ chữ