vanban.org

Bản án 792/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 113 ngày 25/6/2019 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về quan hệ nuôi con: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn về mâu thuẩn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:792/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/12/2024
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Thuỷ và Ông Lê Cao Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ-Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ số: 649/2024/TLST.HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 721/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 775/2024/QĐST-HNG ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Nguyễn Thảo N, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Đường N, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên hệ: số B đường H, phường D, quân T, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Bà Phan Nguyễn Thảo N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Địa chỉ: Đường N, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Nguyễn Thảo N trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H do tự quen biết nhau vào năm 2018 và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2019, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 113 ngày 25/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Phan Nguyễn Thảo N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày 19/9/2020. Hiện cháu A đang sống chung với bà Phan Nguyễn Thảo N. Khi ly hôn, bà Phan Nguyễn Thảo N yêu cầu được nuôi con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày 19/9/2020, không yêu cầu ông Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Nguyễn Thanh H không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Phan Nguyễn Thảo N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 26/8/2024, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Phan Nguyễn Thảo N. Ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Nguyễn Thanh H vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Phan Nguyễn Thảo N, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh H không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Phan Nguyễn Thảo N. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Phan Nguyễn Thảo N là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Phan Nguyễn Thảo N được ly hôn với và ông Nguyễn Thanh H.

Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Nguyễn Phan Tuyết A, lời trình bày của bà Phan Nguyễn Thảo N thì bà và ông Nguyễn Thanh H có con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày 19/9/2020, bà Phan Nguyễn Thảo N đang nuôi dưỡng, chăm sóc.

Xét thấy, con chung được bà Phan Nguyễn Thảo N giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập nên bà Phan Nguyễn Thảo N yêu cầu được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Phan Nguyễn Thảo N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thanh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Phan Nguyễn Thảo N và các thành viên trong gia đình của bà Phan Nguyễn Thảo N không được cản trở ông Nguyễn Thanh H thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà Phan Nguyễn Thảo N không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Nguyễn Thảo N trình bày giữa bà và ông Nguyễn Thanh H về tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Nguyễn Thanh H để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về án phí: Bà Phan Nguyễn Thảo N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 113 ngày 25/6/2019 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về quan hệ nuôi con: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày 19/9/2020.

Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Phan Tuyết A, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Phan Nguyễn Thảo N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Thanh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Phan Nguyễn Thảo N và các thành viên trong gia đình của bà Phan Nguyễn Thảo N không được cản trở ông Nguyễn Thanh H thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà Phan Nguyễn Thảo N không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Nguyễn Thảo N trình bày tài sản chung và nợ chung giữa bà và ông Nguyễn Thanh H là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phan Nguyễn Thảo N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006174 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Phan Nguyễn Thảo N đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Phan Nguyễn Thảo N và ông Nguyễn Thanh H vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ