- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Vân H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu cơ quan (điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo Bùi Mạnh Th và Giang Vân H, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với các bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 267 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----- ----- *** Bản án số: 792/2018/HSPT Ngày: 29/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường
Ông Vũ Mạnh Hùng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Thụ lý số 489/2018/TLHS-PT ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, do có kháng cáo của các bị cáo Giang Vân H và Bùi Mạnh Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 171/2018/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Giang Vân H, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 488 LH, phường HD, thành phố TB, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: 324 phố MAT, phường TC, quận BĐ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông GXĐ (chết) và bà TTL; tiền án-tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 21/11/2017 đến 12/3/2018; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Mạnh Th, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số 931 LTh, phường NK, quận BĐ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông BTL và bà ĐTH ; tiền án,tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 21/11/2017 đến 09/02/2018; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho các bị cáo: có các Luật sư TTL và NMH, Văn phòng luật sư TTL thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 9h30 ngày 21/11/2017 tại quán cà phê An Cafe, địa chỉ: 168 ThH, TrL, DD, Hà Nội, Tổ công tác thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra (PC 46), Công an thành phố Hà Nội phát hiện Giang Vân H, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: 488 đường LH, phường HD, thành phố TB, tỉnh Thái Bình có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ của Giang Vân H một số giấy tờ nghi là giả gồm: 01 Bằng cử nhân Kế toán, 01 Bảng điểm mang tên Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1991 do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cấp, 4 bản photo công chứng Bằng cử nhân Kế toán và 04 bản photo bảng điểm mang tên Nguyễn Thị Ph có dấu công chứng xác nhận số 7759, ngày 03/11/2017 của Phòng tư pháp quận Hai Bà Trưng. Ngoài ra còn thu của H một “Giấy hẹn” do Giang Vân H viết, thể hiện nội dung: H nhận làm bằng đại học giả cho Ph với giá 14.500.000 đồng, H nhận trước của Nguyễn Thị Ph 5.000.000 đồng, hẹn sau 1 tuần sẽ có bằng và Ph sẽ thanh toán nốt 9.500.000 đồng. Ngoài ra, H khai nhận cùng tham gia làm giả bằng đại học còn có đối tượng Bùi Mạnh Th, sinh năm 1991, trú tại 931 Đê LTh, phường NK, quận BĐ, thành phố Hà Nội.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Giang Vân H và nơi ở của Bùi Mạnh Th thu giữ một số vật chứng sau:
- Thu giữ của Giang Vân H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu Gold đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Bùi Mạnh Th: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen đã cũ, không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG NOTE 5 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động SAMSUNG S4 đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra vụ án đã xác định được Giang Vân H và Bùi Mạnh Th là bạn học cùng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Khoảng tháng 6 năm 2017 H và Th biết anh Nguyễn Hải D (hàng xóm anh Th) có nhu cầu xin việc nên đã giúp D để D có bằng giả xin việc làm. H và Th đã nhận của anh D 10.000.000 đồng. Đến khoảng cuối tháng 10 năm 2017, H được chị Nguyễn Thị Ph nhờ làm bằng Đại học Kinh tế quốc dân, H nói hết 14.500.000 đồng và phải chi ứng trước 5.000.000 đồng, chị Ph đã đưa cho H 5.000.000 đồng. Đến ngày 21-11-2017 Th đưa bằng giả cho H để H chuyển cho Ph và nhận nốt 9.500.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 171/2018/HS-ST ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân thành tphố Hà Nội đã tuyên bố: Bùi Mạnh Th và Giang Vân H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 (áp dụng cho bị cáo H); Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:
Bị cáo Giang Vân H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian đã bị tạm giữ, giam trước đó từ ngày 21/11/2017 đến ngày 12/3/2018.
Bị cáo Bùi Mạnh Th 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian đã bị tạm giữ, giam trước đó từ ngày 21/11/2017 đến ngày 09/02/2018.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi liên quan.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 10 và 12 tháng 05 năm 2018, các bị cáo kháng cáo với nội dung kêu oan, tức là chỉ phạm tội một lần, không phải phạm tội nhiều lần.
Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Mạnh Th thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo xin được khoan hồng giảm nhẹ; còn bị cáo Giang Vân H thì chỉ thừa nhận làm giả một lần cho một người, bị cáo xin được khoan hồng giảm nhẹ, vì hoàn cảnh gia đình bị cáo rất éo le, bố chết, em trai bị tâm thần, mẹ bị cáo hay bị ốm đau mà không có ai chăm sóc mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội khẳng định: Các bị cáo đã thực hiện hành vi làm bằng giả nhiều lần, bị cáo H chỉ thừa nhận một lần là không đúng, trong khi tại Cơ quan điều tra bị cáo đã nhiều lần khai nhận đã làm nhiều lần bằng giả. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù đối với các bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại cho các bị cáo về việc các bị cáo bị quy kết làm giả nhiều lần. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm vẫn kết luận bị cáo phạm tội nhiều lần thì đề nghị giảm nhẹ cho các bị cáo, bởi vì: các bị cáo tuy làm bằng giả, nhưng bằng giả đó chưa được sử dụng để xin việc, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và các bị cáo đã nộp lại tiền thu lợi bất chính. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà cho các bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ kết quả xét hỏi, tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan-toàn diện các tài liệu, chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bào chữa của Luật sư,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM:
Sau khi vụ án bị phát hiện thì các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã cùng nhau tham gia trong việc làm giả bằng cấp cho chị Nguyễn Thị Ph một bằng Đại học Kinh tế quốc dân, cho anh Nguyễn Hải D một bằng Cao đẳng nghề để thu tiền của những người này. Nhưng đến phiên tòa sơ thẩm các bị cáo chỉ thừa nhận làm giả có một lần, tức chỉ làm cho một người đó là chị Nguyễn Thị Ph. Tuy nhiên căn cứ vào chính lời khai của các bị cáo (BL 232, 233, 235, 238, 239, 243, 245, 246, 304…) thì có đủ căn cứ để khẳng định các bị cáo đã cùng nhau tham gia làm giả hai lần với hai bằng cấp như nêu trên. Sau này các bị cáo không thừa nhận phạm tội nhiều lần là chỉ nhằm trốn tránh pháp luật để mong được áp dụng khung khoản nhẹ hơn để được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn mà thôi.
Mặc dù các bị cáo không thừa nhận phạm tội nhiều lần như vậy, nhưng Hội đồng xét xử thấy: các bị cáo có nhân thân tốt, lại có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi vụ án bị phát hiện đã thành khẩn khai báo là đã có tham gia làm bằng giả; bằng cấp giả mà các bị cáo tham gia làm giả thì trên thực tế chưa được sử dụng để xin việc làm, nên hành vi phạm tội của các bị cáo được coi là chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, các bị cáo tuổi còn trẻ, chưa lấy vợ, lấy chồng; Trong quá trình điều tra vụ án các bị cáo đã nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính. Do đó, cũng cần áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt, giúp cho các bị cáo yên tâm cải tạo để sớm được trở về hòa đồng với xã hội và gia đình, để có điều kiện sớm ổn định cuộc sống cho cá nhân các bị cáo lấy vợ, lấy chồng. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên, nên chỉ cần xử phạt bị cáo Th dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ nghiêm. Đối với bị cáo H phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên xử phạt mức hình phạt thấp hơn bị cáo Th. Trong những năm gần đây tệ nạn làm bằng cấp giả xảy ra nhiều, bị xã hội lên án gay gắt, nên không thể cho các bị cáo hưởng án treo được, có như vậy thì mới đảm bảo được tính răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ được chấp nhận, nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên và căn cứ vào các Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo Bùi Mạnh Th và Giang Vân H, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với các bị cáo. Nay tuyên:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38, riêng bị cáo H còn được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Mạnh Th 9 (chín) tháng tù và xử phạt Giang Vân H 6 (sáu) tháng tù đều về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo Th và H đều tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo Th được trừ thời gian đã tạm giữ, giam trước đó từ ngày 21-11-2017 đến ngày 09-02-2018; bị cáo H được tính trừ thời gian đã tạm giữ, giam trước đó từ ngày 21-11-2017 đến 12-3-2018).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Th và bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/11/2018).
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Cục thi hành án dân sự TP Hà Nội; - Các bị cáo (theo đ/c); - Lưu: | TM. Hội đồng xét xử phúc thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hùng |