vanban.org

Bản án 791/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/05/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết s…

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lê Chí C có 03 người con chung gồm: Lê Nguyễn Chí Hoàng, sinh ngày 17/12/2009; Lê Nguyễn Hoàng Long, sinh ngày 22/10/2012; Lê Nguyễn Ha Na, sinh ngày 15/11/2015. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà H và ông C về việc giao con chung tên Lê Nguyễn Chí Hoàng và …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết s…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 791/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 27/5/2021.
Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mạnh Đoan Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thực;

Ông Nguyễn Ngọc Hòa.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Danh Đời – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án thụ lý số 155/2021/TLST-HNGĐ ngày 12/5/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2243/2021/QĐXXST-DS ngày 24/5/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 21045 Ladner Rd, Pitt Meadows V3Y 1Z1, Canada, (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Chí C, sinh năm 1975.

Địa chỉ: 21/8D ấp Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai ngày 07/4/2021, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông Lê Chí C kết hôn trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 182, quyển số 01/2008, ngày 01/12/2008. Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó bà H đi nước ngoài định cư, từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. bà H xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Chí C. Về con chung: bà H khai bà và ông C có 03 người con chung gồm: Lê Nguyễn Chí Hoàng, sinh ngày 17/12/2009; Lê Nguyễn Hoàng Long, sinh ngày 22/10/2012; Lê Nguyễn Ha Na, sinh ngày 15/11/2015. bà H yêu cầu sau khi ly hôn, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Lê Nguyễn Chí Hoàng và Lê Nguyễn Hoàng Long, ông C là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Ha Na. bà H không yêu cầu ông C và bà phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, bà H đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung Bản tự khai ngày 24/5/2021, bị đơn ông Lê Chí C trình bày: ông C xác nhận những lời trình bày của bà H về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn và đồng ý yêu cầu của bà H về việc bà H trực tiếp nuôi con chung là hai cháu Lê Nguyễn Chí Hoàng và Lê Nguyễn Hoàng Long; ông nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Nguyễn Ha Na. Ông và bà H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đồng thời, ông C đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo Bản tự khai ngày 24/5/2021, các cháu Lê Nguyễn Chí Hoàng và Lê Nguyễn Hoàng Long cùng trình bày: Nếu Tòa án chấp nhận cho cha mẹ của các cháu là ông Lê Chí C và bà Nguyễn Thị Diệu H ly hôn, cháu Hoàng và cháu Long đều có nguyện vọng được sống chung với Mẹ là bà Nguyễn Thị Diệu H, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

- Theo Bản tự khai ngày 24/5/2021, cháu Lê Nguyễn Ha Na trình bày: Nếu Tòa án chấp nhận cho cha mẹ của các cháu là ông Lê Chí C và bà Nguyễn Thị Diệu H ly hôn, cháu Na có nguyện vọng được sống chung với Cha là ông Lê Chí C, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:

Xét thấy, bà Nguyễn Thị Diệu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Chí C và bà H hiện đang cư trú tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Đơn xin vắng mặt ngày 07/4/2021 của bà Nguyễn Thị Diệu H đã được hợp pháp hóa lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver, Canada nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Qua lời trình bày của bà H và ông C, có cơ sở xác định: bà H và ông C có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 182, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định cấp ngày 01/12/2008, tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông C là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, bà Hằng định cư ở nước ngoài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết sâu đậm. Do hai bên đang sinh sống và làm việc ở hai nước khác nhau nên không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà H yêu cầu được ly hôn với ông C, ông C cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của bà H và ông C.

- Về con chung: bà H và ông C có 03 người con chung gồm: Lê Nguyễn Chí Hoàng, sinh ngày 17/12/2009; Lê Nguyễn Hoàng Long, sinh ngày 22/10/2012; Lê Nguyễn Ha Na, sinh ngày 15/11/2015. bà H yêu cầu sau khi ly hôn, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Lê Nguyễn Chí Hoàng và Lê Nguyễn Hoàng Long, ông C là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Ha Na. bà H và ông C không phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, ông C cũng như các cháu Hoàng, Long, Na đều thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của bà H, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên.

- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà H và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Án phí về ly hôn trong vụ việc hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: 1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1982 và ông Lê Chí C, sinh năm 1975. Giấy chứng nhận kết hôn số 182, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định cấp ngày 01/12/2008 cho bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lê Chí C hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lê Chí C có 03 người con chung gồm: Lê Nguyễn Chí Hoàng, sinh ngày 17/12/2009; Lê Nguyễn Hoàng Long, sinh ngày 22/10/2012; Lê Nguyễn Ha Na, sinh ngày 15/11/2015. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà H và ông C về việc giao con chung tên Lê Nguyễn Chí Hoàng và Lê Nguyễn Hoàng Long cho bà Nguyễn Thị Diệu H trực tiếp nuôi; giao con chung tên Lê Nguyễn Ha Na cho ông Lê Chí C trực tiếp nuôi.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.

1.3. Về cấp dưỡng: Ông Lê Chí C và bà Nguyễn Thị Diệu H không yêu cầu về việc cấp dưỡng.

1.4. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Lê Chí C và bà Nguyễn Thị Diệu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0094047 ngày 10/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. bà H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Diệu H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Lê Chí C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ