- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Long G - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Huỳnh Long G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2026/HS-ST Ngày: 20-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn Tây;
2. Ông Tống Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:
Huỳnh Long G, sinh ngày 17/9/1993, tại tỉnh An Giang; Số CCCD: 089093020662; nơi cư trú: Ấp V, xã Tr, huyện P, tỉnh An Giang (Nay là xã Tr, tỉnh An Giang); tạm trú: Nhà trọ Z, Tổ 4, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay là khu phố THK, phường Y, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh Th; có vợ tên Nguyễn Như T3; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH S; địa chỉ: Khu phố X, phường Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xã E, tỉnh Đắk Lắk, là người đại diện theo uỷ quyền. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Trần Hữu Đ, ông Lê Anh Đ1, ông Trần Trường A, ông K1, ông Hoàng Văn C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH S có địa chỉ tại khu phố Tân Bình, phường Y, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường Y, Thành phố Hồ Chí Minh), ngành nghề chủ yếu là may gia công quần áo. Huỳnh Long G là công nhân của công ty TNHH S, có nhiệm vụ kiểm tra số lượng vải nhập kho của công ty.
Ngày 15/11/2029, bà Nguyễn Thị T2 là nhân sự của Công ty TNHH S có đơn trình báo với Công an phường Y về việc mất trộm tài sản của Công ty là các Roll (cây) vải ở trong kho. Sau khi nhận được tin báo, qua kiểm tra camera công ty, lời khai người làm chứng xác định được Huỳnh Long G là người đã lấy trộm tài sản của Công ty. Do đó, Công an phường Y đã mời Huỳnh Long G đến làm việc. Quá trình làm việc Huỳnh Long G khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Cụ thể: Huỳnh Long G khai, khoảng 17 giờ ngày 12/11/2019, khi đang làm việc tại Công ty thì ông Trần Hữu Đ - là quản lý kho của Công ty có việc phải về trước nên bảo G khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Công ty có xuất hàng cho Công ty TĐTĐ, nhờ G xuất hàng giùm Đ, G đồng ý. Cùng thời điểm này, Lê Anh Đ1 - là quản đốc của Công ty TNHH S, gặp G ở kho của Công ty, tại đây Đ1 bảo G khi xuất hàng Roll (cây) vải cho Công ty TĐTĐ thì lấy thêm hàng vải tồn kho của Công ty (đem đi bán) rồi Đ1 sẽ cho G tiền, Đ1 không nói cho G số tiền là bao nhiêu. Sau đó, Hoàng Văn C - là giám đốc của Công ty TĐTĐ đi cùng tài xế điều khiển xe ô tô biển số 61C-204.39 đến Công ty TNHH S để nhận các Roll (cây) vải. Tổng số lượng hàng Roll (cây) vải đã xuất cho Công ty TĐTĐ, vào thời điểm trên G không nhớ chính xác là bao nhiêu. G chỉ xác định đã lấy trộm 18 Roll (cây) vải tồn kho (gồm các màu trắng và màu đen) của Công ty TNHH S để lên xe 61C-204.39 cho tài xế mang đi ra ngoài tiêu thụ. Việc mang hàng đi đâu và bán cho ai thì G không biết và sau đó Đ1 cho lại G 2.000.000 đồng.
Công an phường Y lập hồ sơ ban đầu và báo cáo vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá số 45/KLTS-TTHS ngày 10/02/2020 của Hội đồng định giá thị xã T, tỉnh Bình Dương kết luận:
- 13 Roll (cây) vải màu đen có kích thước dài 1,1 mét; ngang 60cm; cao 20cm (có giá 681.818 đồng/1 cây) giá trị 8.863.634 đồng.
- 09 Roll (cây) vải màu trắng có kích thước dài 1,1 mét; ngang 60cm; cao 20cm (có giá 681.818 đồng/1 cây) giá trị 6.136.362 đồng.
Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với các Roll (cây) vải bị mất. Tuy nhiên, tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt lại yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh làm rõ mức độ liên quan đến vụ án của Lê Anh Đ1 và Hoàng Văn C. Lê Anh Đ1 khai nhận: Đ1 không kêu G lấy trộm hàng vải tồn kho của Công ty TNHH S mang đi bán. Hoàng Văn C khai nhận: Ngày 12/11/2019, C đến Công ty TNHH S nhận các Roll (cây) vải để về gia công, việc G có hành vi trộm cắp các Roll (cây) vải của Công ty TNHH S thì C hoàn toàn không biết. Ngoài lời khai của Huỳnh Long G, không còn chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội của Lê Anh Đ1, Hoàng Văn C. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án số A17343 ngày 10/11/2025 để tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của Lê Anh Đ1 và Hoàng Văn C.
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSKV17 ngày 25/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Huỳnh Long G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Toà án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã 02 lần trả Hồ sơ để điều tra bổ sung đối với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 23/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 17/CV-VKSKV17 về việc chuyển hồ sơ vụ án hình sự cho Toà án để xét xử theo thẩm quyền với nội dung giữ nguyên quyết định truy tố đối với Huỳnh Long G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Long G từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- Bị cáo Huỳnh Long G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Mặc dù, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, có một số vi phạm và các vi phạm đó đã được nêu tại các Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đồng thời vụ án xảy ra từ ngày 12/11/2019 nhưng không được kịp thời giải quyết, để vụ án kéo dài đến tháng 4/2025 mới truy tố, đến năm 2026 mới được xét xử. Việc kéo dài thời hạn giải quyết vụ án ngoài vi phạm về mặt thời hạn còn làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bị cáo cũng như bị hại. Do đó, cần kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phải rút kinh nghiệm trong quá trình điều tra, truy tố để việc điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Long G tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 12/11/2019, tại Công ty TNHH S thuộc phường Y, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay là phường Y, Thành phố Hồ Chí Minh), Huỳnh Long G đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 18 Roll (cây) vải màu đen và trắng có kích thước dài 1,1 mét; ngang 60cm; cao 20cm của Công ty TNHH S. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là 12.272.724 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Long G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm của bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; trong thời gian hơn 6 năm kể từ khi xảy ra hành vi phạm tội cho đến nay mặc dù chưa bị kết án, tuy nhiên bị cáo đã luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, thể hiện thái độ ăn năn hối cải của bị cáo. Bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự; hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Tuy nhiên tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt bị hại thay đổi và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 12.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, để bồi thường cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với hành vi của Lê Anh Đ1 và Hoàng Văn C. Kiến nghị Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ và xử lý đúng theo quy định, tránh bỏ lọt người phạm tội.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội, bị kết án và phải bồi thường dân sự nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Huỳnh Long G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Long G 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (20/3/2026).
Giao bị cáo Huỳnh Long G cho Ủy ban nhân dân phường Y, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 275, Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Huỳnh Long G bồi thường cho Công ty TNHH S số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0011805 ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Huỳnh Long G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND phường Y; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị Loan |