vanban.org

Bản án 79/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2025. Thời hạn tạm giam là: 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tông Đ - tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11-TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2026/HS-ST
Ngày 28 - 4 -2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phú Hải;

2. Bà Nguyễn Thị Thân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Thái An - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trương Phi Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Tông Đon, sinh năm 1995, nơi sinh tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông và bà ; vợ: (chưa đăng ký kết hôn), con 01 người con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2025 chuyển tạm giam từ ngày 28/11/2025 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh , sinh năm 1999; nơi cư trú: ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có công việc ổn định nên ngày 23/11/202 sử dụng tài khoản Telegram tên "" tìm kiếm việc làm trên mạng xã hội T thì thấy tài khoản Telegram tên "tôi là dung nè" đăng bài viết tuyển dụng nhân viên của (Game online) tại Campuchia, đối diện với tiền lương 900 USD/tháng. liên lạc và được đối tượng sử dụng tài khoản Telegram tên "tôi là dung nè" đồng ý nhận vào làm việc, yêu cầu cung cấp ảnh chụp thẻ Căn cước công dân, số điện thoại của , thỏa thuận toàn bộ chi phí sang Campuchia sẽ do công ty thanh toán. Ngày 24/11/2025, sử dụng tài khoản Telegram tên "tôi là dung nè" sắp xếp cho đối tượng đi phương tiện máy bay từ thì có tài xế ô tô dịch vụ (không rõ nhân thân, lai lịch, biển kiểm soát) chờ đón, đưa đến quán nước đối diện thuộc chờ người đưa xuất cảnh trái phép sang Campuchia.

Vào lúc 22 giờ 38 phút ngày 24/11/2025, bị cáo nhận được cuộc gọi điện thoại từ số 0888966984 của đối tượng người Campuchia tên "Vươn" (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê đến đón chở đến khu vực biên giới gần cột mốc 98 thuộc giao cho "Vươn" dẫn đi đường mòn xuất cảnh trái phép sang Campuchia với số tiền công 50.000 Riel (tiền Campuchia), thỏa thuận khi giao người sẽ nhận tiền công trực tiếp từ đối tượng "Vươn". Đến 00 giờ 05 phút ngày 23/11/2025, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô không biển số đến đón đi về hướng cột mốc 98 biên giới giữa Việt Nam – Campuchia, khi đến đoạn đường thuộc thì bị tuần tra phát hiện bắt quả tang.

Ngoài ra, còn khai nhận trước đó vào ngày 24/11/2025 đã 03 lần đưa tổng cộng 04 đối tượng người Việt Nam (đều là đàn ông không rõ nhân thân lai lịch) từ đến cột mốc 98 thuộc giao cho "Vươn" dẫn đi đường mòn xuất cảnh trái phép sang Campuchia (khoảng 09 giờ 30 phút: 01 người; khoảng 14 giờ 30 phút: 02 người; khoảng 18 giờ 00 phút: 01 người) và đã được đối tượng "Vươn" trả tiền công tổng cộng 200.000 Riel (50.000 Riel/người).

Quá trình điều tra, đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.

* Kết quả giám định: Tại Kết luận giám định số 5788/KL-KTHS ngày 11/12/2025 của kết luận: xe mô tô không có nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, số máy: C70E-1206808, số khung: DH88-XF115584, số khung và số máy không bị đục xóa.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô không có nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, số máy: C70E-1206808, số khung: DH88-XF115584;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu itel A90, màu xanh, bên trong gắn sim Campuchia số thuê bao +85590752540;

- 01 (một) gói niêm phong tiền Campuchia: 186.500 Riel, có chữ ký của giảm định viên và đóng dấu mộc của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

* Kê biên tài sản: Tông Đon không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.

* Đối với người tên "Vươn", người sử dụng tài khoản Telegram tên "tôi là dung nè" và tài xế ô tô dịch vụ đã đón, đưa Chảo Láo Cáo từ Thành phố H đến khu vực hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, không triệu tập làm việc được nên không có căn cứ xử lý.

* Đối với hành vi xuất cảnh trái phép của chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 25/11/2025 đã ra Quyết định xử phạt vi hành chính về hành vi "Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật" với số tiền 4.000.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt.

* Đối với 04 người Việt Nam được bị cáo đưa xuất cảnh trái phép sang Campuchia trước đó không xác định được nhân thân lai lịch, không triệu tập làm việc được nên không đề nghị xử lý.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSKV11 ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra , Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng. Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 24/11/2025 bị cáo nhận chở xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia với tiền công 50.000 Riel. Bị cáo một mình điều khiển xe mô tô không biển số đến đón đi về hướng cột mốc 98 biên giới giữa Việt Nam – Campuchia, khi đến khu vực thì bị phát hiện bắt quả tang và bị cáo chưa nhận được tiền công.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 57/CT-VKSTN-P1 ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý hành chính mà cụ thể là trong lĩnh vực xuất cảnh, đồng thời gây mất trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích không chỉ trừng trị bị cáo mà còn răn đe những ai đang có ý định như các bị cáo, đồng thời phục vụ cho công tác phòng chống tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

[4.1.] Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế và khả năng thi hành của bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô không có nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, số máy: C70E-1206808, số khung: DH88-XF115584; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu itel A90, màu xanh, bên trong gắn sim Campuchia số thuê bao +85590752540: là phương tiện dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) gói niêm phong tiền Campuchia: 186.500 Riel, có chữ ký của giám định viên và đóng dấu mộc của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Là tài sản của bị cáo thu lợi bất chính từ việc bị cáo tổ chức cho 04 người xuất cảnh sang Campuchia trước đó nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2025.

Thời hạn tạm giam là: 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) xe mô tô không có nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, số máy: C70E-1206808, số khung: DH88-XF115584; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu itel A90, màu xanh, bên trong gắn sim Campuchia số thuê bao +85590752540.

+ 01 (một) gói niêm phong tiền Campuchia: 186.500 Riel, có chữ ký của giảm định viên và đóng dấu mộc của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11, tỉnh Tây Ninh).

3. Về án phí: căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ