vanban.org

Bản án 79/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 4, 5, 6, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 4, 5, 6, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27/02/2026
V/v “ Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hà Thía.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Kim Phượng;

2. Bà Đoàn Sơn Lâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.

Đại diện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 304/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 124/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1996 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp E, xã T, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1990 (Vắng mặt lần 2).

Địa chỉ: ấp G, xã T, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền, lợi ích được bảo vệ: Cháu Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 01/4/2014 và Đoàn Thanh P, sinh ngày 08/9/2018 (Yêu cầu xét xử vắng mặt).

Cháu T1 cùng địa chỉ với nguyên đơn; cháu P cùng địa chỉ với bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết trình bày như sau: Hôn nhân của bà và ông Đoàn Văn T đến với nhau là do mai mối, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 01 tháng thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ năm 2010, có đăng ký kết hôn ngày 25/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ).

Bà và ông T chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống không có tiếng nói chung, ông T không có trách nhiệm với gia đình, không chịu lao động tạo thu nhập chăm lo cho gia đình, thích vui chơi với bạn bè, bà khuyên ông T nhiều lần nhung không thay đổi nên bà mang cháu T1, C bỏ đi và sống ly thân với ông T từ năm 2022 cho đến nay. Bà không còn tình cảm với ông T nên bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông T có 03 con chung tên Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 01/4/2014; Đoàn Thanh P, sinh ngày 08/9/2018 và Đoàn Minh C, sinh ngày 22/11/2019. Từ khi ly thân, bà trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và C; cháu P sống với ông T. Khi ly hôn, bà xin tiếp tục nuôi cháu T1 và cháu C; đồng ý giao cháu P cho ông T nuôi; không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đoàn Văn T mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không chấp hành giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; đồng thời vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.

Người có quyền, lợi ích được bảo vệ cháu T1 đã trình bày: Cháu là con chung của bà Nguyễn Thị L và ông Đoàn Văn T. Cháu đang học lớp 4, sống cùng nguyên đơn và em C. Nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn cháu không ý kiến; cháu có nguyện vọng tiếp tục sống chung với nguyên đơn không yêu cầu gì đối với bị đơn.

Người có quyền, lợi ích được bảo vệ cháu P đã trình bày: Cháu là con chung của bà Nguyễn Thị L và ông Đoàn Văn T. Cháu đang học lớp 2, sống cùng bị đơn. Nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn cháu không ý kiến; cháu có nguyện vọng tiếp tục sống chung với bị đơn không yêu cầu gì đối với nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và các đương sự đều chấp hành tốt quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà L được ly hôn với ông T. Về con chung, giao cháu T1, C cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu P cho ông T rực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa: [1] Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L xin ly hôn với bị đơn ông Đoàn Văn T thì đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 4 - Cần Thơ. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không lý do nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn nêu trên.

Về hôn nhân của bà L và ông T là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn của ông, bà chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ, chồng thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và hôn nhân không còn hạnh phúc; điều này cũng phù hợp với biên bản xác minh Tòa án lập ngày 06/01/2026. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông T là phù hợp.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung tên Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 01/4/2014; Đoàn Thanh P, sinh ngày 08/9/2018 và Đoàn Minh C, sinh ngày 22/11/2019. Từ khi ly thân, bà L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và C, ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và C, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của cháu T1, cháu P. Nhằm không làm sáo trộn đời sống của con trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T1 và C cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu P cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đối với bị đơn nếu có yêu cầu chia tài sản chung, riêng và nợ thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất về nội dung giải quyết trong vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 4, 5, 6, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 54, 56, 69, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Đoàn Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 01/4/2014; Đoàn Minh C, sinh ngày 22/11/2019 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Giao cháu Đoàn Thanh P, sinh ngày 08/9/2018 cho ông Đoàn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho các đương sự, không ai được cản trở nguyên đơn, bị đơn thực hiện quyền này. Vì lợi ích con chung, nguyên đơn, bị đơn có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, riêng và nợ: Không xem xét giải quyết. Đối với bị đơn nếu có yêu cầu chia tài sản chung, riêng và nợ thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0008600 ngày 05/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ nên nguyên đơn không phải nộp thêm án phí.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ