vanban.org

Bản án 79/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Ngô Kim N và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng.

Về án phí: Bà Ngô Kim N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0004756 ngày 17/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Cà Mau được chuyển thu. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Kim N - Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Ngô Kim N và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2026/HNGĐ-ST
Ngày 06-3-2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Bà Nguyễn Kim Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Kiển - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 395/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Kim N, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau; Căn cước số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 09/12/2024 (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 18/7/2022 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Ngô Kim N trình bày:

Về hôn nhân: Về hôn nhân: Năm 1999, bà và ông Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống nhưng không có đăng ký kết hôn. Trước đây vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày, thường xảy ra cự cãi, đã được gia đình hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, gay gắt không thể hàn gắn được nên đã không còn chung sống từ đầu năm 2019 đến nay. Từ đó tình cảm giữa ông bà không còn gắn bó, mỗi người có cuộc sống riêng. Bà nhận thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài , mục đích hôn nhân không đạt được yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Mộng T sinh năm 2001 và Nguyễn Trọng H sinh năm 2004. Cháu H đã chết ngày 08/11/2025 do bị hậu Covid, phổi trắng. Cháu T hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Nguyễn Văn C không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Ngô Kim N và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: về hôn nhân, không công nhận bà Ngô Kim N và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng; về con chung, con chung đã trưởng thành nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không xem xét; đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Ngô Kim N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn C được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân:

Bà Ngô Kim N và ông Nguyễn Văn C tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 1999. Tuy bà N và ông C xác lập quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật nhưng trong quá trình chung sống đến thời điểm yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn không có đăng ký kết hôn. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông C không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định tại Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Bà N và ông C có 02 con chung tên Nguyễn Mộng T sinh năm 2001 và Nguyễn Trọng H sinh năm 2004. Cháu H đã chết ngày 08/11/2025 do bị hậu Covid, phổi trắng. Cháu T hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông C không cung cấp tài liệu, chứng cứ và văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà N. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Ngô Kim N và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng.

2. Về án phí: Bà Ngô Kim N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0004756 ngày 17/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà N, ông C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ