vanban.org

Bản án 79/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đức L được ly hôn với chị Triệu Thị 2- Về con chung: Giao cháu Trần Triệu Ngọc H1, sinh ngày 14-10-2010 cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly-Huyền"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2026/HNGĐ - ST
Ngày 19-5-2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh .

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hiền;

2. Bà Lê Thị Thuỳ.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Diệp Linh, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 50/2026/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2026 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Đức L, sinh năm 1985; Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Triệu Thị Thanh H, sinh năm 1991; Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đến ngày 25 tháng 02 năm 2026 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Trần Đức L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã B, tỉnh Lào Cai) ngày 26-10-2009. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021, không ai còn quan tâm đến nhau. Anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Triệu Thị Thanh H.

Về con chung: Anh L và chị H có 01 con chung là Trần Triệu Ngọc H1, sinh ngày 14-10-2010. Hiện con chung đang ở với bố. Ly hôn anh L có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai chị Triệu Thị Thanh H trình bày về quan hệ hôn nhân, sống

chung, mâu thuẫn, ly thân đúng như anh Trần Đức L trình bày. Anh L đề nghị ly hôn, chị H đồng ý ly hôn với anh L. Về con chung: có 01 con chung là Trần Triệu Ngọc H1, sinh ngày 14-10-2010. Hiện con chung đang ở với bố. Ly hôn chị H có yêu cầu để anh L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với các văn bản Toà án giao, chị H đã nhận được, tuy nhiên do tính chất công việc rất bận không thể đi lại được nên chị H có đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.

Tại đơn xin xác nhận ngày 25-3-2026 của anh Trần Đức L, trưởng Thôn Khe

Nhàn, xã B và UBND xã B xác nhận về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn và con chung giữa anh L và chị H đúng như anh L trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật của vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo đơn khởi kiện của anh Trần Đức L. Do bị đơn chị Triệu Thị Thanh H có hộ khẩu thường trú tại Thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai có thẩm quyền giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị H có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đức L, chị Triệu Thị Thanh H kết hôn ngày 26-10-2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã B, tỉnh Lào Cai). Việc kết hôn tuân thủ đúng các quy định tại Điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, qua lời khai của anh L, trong quá trình chung sống anh L, chị H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị H công nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do không có tiếng nói chung, tính tình không hợp. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng anh L, chị H có xảy ra mâu thuẫn là đúng thực tế, phù hợp với lời khai của chị H và xác nhận của trưởng thôn Thôn Khe N, xã B và UBND xã B, tỉnh Lào Cai.

Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh L, chị H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đức L được ly hôn với chị Triệu Thị Thanh H.

Về con chung: Anh Ly, chị H có 01 con chung là Trần Triệu Ngọc H1, sinh

ngày 14-10-2010. Hiện con chung đang ở với anh L.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu của anh L là trực tiếp nuôi con là hoàn toàn

chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Chị H cũng có yêu cầu để anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu H1 có nguyện vọng ở với bố. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cũng như không ảnh hưởng đến tâm lý của con chung, căn cứ vào quy định của các Điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của anh L, giao con chung Trần Triệu Ngọc H1 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Anh L và chị H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung

nên chị H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Trần Đức L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đức L được ly hôn với chị Triệu Thị

Thanh H.

2- Về con chung: Giao cháu Trần Triệu Ngọc H1, sinh ngày 14-10-2010 cho

anh Trần Đức L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật; chị Triệu Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3- Về án phí:

- Anh Trần Đức L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: 00000565 ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Anh L đã nộp đủ án phí.

4- Về quyền kháng cáo: Anh Trần Đức L và chị Triệu Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.

5- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lào Cai;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND khu vực 2 – Lào Cai;

- Phòng THADS khu vực 2-Lào Cai;

- UBND xã Bảo Ái, tỉnh Lào Cai;

- Các đương sự;

- Lưu HS,T.A,THS.

Nguyễn Đỗ Quỳnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đỗ Quỳnh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đỗ Quỳnh

Cỡ chữ