vanban.org

Bản án 79/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thùy D phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Về hình phạt: Xử phạt Phạm Thùy D 10 ( Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2025. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 16 màu xanh ( Thu giũ của L - đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu xám ( Thu giữ của D - đã qua sử d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thùy D phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HS-ST
Ngày: 29/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hứa Thị Hà Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hiếu Luân và ông nguyễn Đăng Bôi Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội. Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội: Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xét xử số 02 Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thùy D, sinh năm 2001; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; HKTT: Tổ 23, phường Đ, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: ngõ 252 đường M, phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Đăng D1 và bà Trần Thị Thảo C; Chồng, con: Không có. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội. (Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm 2003. Địa chỉ: Tổ 12 B, phường T, tỉnh

Ninh Bình. (vắng mặt)

Anh Cồ Việt T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 8 A, phường H, Thành phố Hà

Nội. (vắng mặt)

Anh Bùi Việt T1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn 2, xã Y, Thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt)

NỘI D UNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội d ung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/7/2025, Cồ Việt T và Bùi Việt T1 rủ nhau đi uống rượu tại khu vực V, xã T, Hà Nội, quá trình ăn uống T và T1 cùng thống nhất rủ nhau đi mua dâm. T lên mạng xã hội facebook vào nhóm “thuê người yêu, bạn du lịch” thấy có 01 tài khoản tên “Người tham gia ẩn danh” đăng tải với nội d ung “Cuối tuần có anh nào muốn thuê phòng không nè. Nhận mọi kèo ở Hà Nội ạ”. Sau đó, T nhắn tin vào phần messenger thì thấy tài khoản tên “Thùy D” của Phạm Thùy D với nội dun g đề nghị thuê D và một bạn nữ nữa đi ăn cùng và sau khi ăn xong sẽ đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục, D đồng ý. T và D thống nhất giá bán dâm của D là 2.500.000 đồng, còn giá bán dâm của bạn D là 3.500.000 đồng. Tiếp đó, D sử dụng tài khoản facebook khác có tên “Bảo An” nhắn tin cho tài khoản facebook tên “Nguyễn Khánh L” của Nguyễn Thị Khánh L với nội D “có người thuê đi ăn cùng rồi đi bán dâm” thì L đồng ý. D và T thống nhất sẽ gặp nhau vào thứ 2 ngày 14/07/2025. Tuy nhiên, sau đó T nhắn tin cho D đổi lịch hẹn sang trưa ngày 12/07/2025, D có nhắn lại do T thay đổi thời gian gặp vào thứ bảy nên giá tiền bán dâm sẽ là 7.000.000 đồng/02 người thì T đồng ý. Lúc này, D tiếp tục sử dụng facebook tên “Bảo An” nhắn tin thông báo cho L biết về việc đã thống nhất giá bán dâm là 7.000.000 đồng của hai người, trong đó D được 3.000.000 đồng và L được 4.000.000 đồng. L đồng ý.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 12/7/2025, theo định vị T gửi, D và L đến nhà nghỉ O địa chỉ ở số 8, ngõ 673/73 đường N, xã T, Thành phố Hà Nội, T xuống đón đưa D và L lên phòng 708 có Bùi Việt T1 là bạn của T đang ngồi trong phòng. Tại đây, T đưa cho D số tiền 7.000.000 đồng là tiền mua dâm của T, T1 với D, L như đã thỏa thuận trước đó. T có đưa thêm riêng cho D số tiền 500.000 đồng là tiền công cho D đã môi giới để L đến bán dâm cho T. D cầm tiền rồi phân công D đi cùng với T1 lên phòng 808 để bán dâm cho T1 còn L và T ở lại phòng 708.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/7/2025, tổ công tác Công an xã T, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại cơ sở kinh doanh O Hotel ở số 8, ngõ 673/73 đường N, xã T, Thành phố Hà Nội phát hiện tại phòng 708 có Nguyễn Thị Khánh L và Cồ Việt T, tại phòng 808 có Phạm Thùy D và Bùi Việt T1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Cơ quan công an đã thu giữ của L 01 điện thoại Iphone 16 màu xanh; thu giữ của T1 01 bao cao su đã qua sử dụng; thu giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu xám và 7.500.000 đồng; thu giữ của T 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng không gắn sim và 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thùy D đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Đây là lần đầu tiên D thực hiện hành vi môi giới mại dâm, hưởng lợi số tiền 500.000 đồng.

Đối với hành vi mua dâm của Cồ Việt T, Bùi Việt T1, Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 24, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, mức phạt 1.500.000 đồng; xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thùy D, Nguyễn Thị Khánh L, về hành vi bán dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 mức phạt 400.000 đồng.

Đối với anh Vũ Hoàng Đ là chủ sở hữu của cơ sở kinh doanh O Hotel, và chị Vũ Thị Hoài T2 là nhân viên lễ tân, quá trình điều tra xác định: chị Thu và anh Đ không biết việc các đối tượng vào nhà nghỉ thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm, do đó Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội không đặt vấn đề hình sự, không xử lý trong vụ án này. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra, anh Đ chủ cơ sở không cung cấp được Giấy chứng nhận điều kiện an ninh, trật tự, Giấy chứng nhận đủ điều kiện phòng cháy, chữa cháy và các giấy tờ liên quan nên Cơ quan CSĐT – Công an Thành phố Hà Nội đã chuyển tài liệu liên quan đến UBND xã T để xử lý theo quy định.

Tang vật thu giữ: 01 điện thoại Iphone 16 màu xanh ( Thu giữ của L); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu xám ( thu giữ của D); 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng không gắn sim ( thu giữ của T); 02 bao cao su đã qua sử dụng; Số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) ( trong đó T1 góp 3.500.000 đồng và T góp 3.500.000 đồng).

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS-KV11 ngày 16 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội đã truy tố Phạm Thùy D về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thùy D từ 08 tháng đến 12 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 16 màu xanh ( Thu giữ của L - đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu xám (thu giữ của D - đã qua sử dụng); 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng ( Thu giữ của T - đã qua sử dụng) không gắn sim do sử dụng vào việc phạm tội và số tiền 7.500.000 đồng ( trong đó T1 góp 3.500.000 đồng và T góp 3.500.000 đồng ).Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên toà, bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan. Các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/7/2025, Phạm Thùy D đã có hành vi làm trung gian môi giới, dẫn dắt cho Nguyễn Thị Khánh L và Cồ Việt T, Bùi Việt T1 thực hiện việc mua bán dâm tại cơ sở kinh doanh O Hotel ở số 8, ngõ 673/73 đường N, xã T, Thành phố Hà Nội vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 12/7/2025, Phạm Thùy D đã hưởng lợi 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống lành mạnh văn minh trong sinh hoạt chung của xã hội, là tác nhân làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm. Do đó cần xử bị cáo với mức án nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 16 màu xanh ( thu giữ của L - đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu xám( thu giữ của D - đã qua sử dụng); 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng ( thu giữ của T - đã qua sử dụng) không gắn sim và số tiền 7.500.000 đồng ( trong đó T1 góp 3.500.000 đồng và T góp 3.500.000 đồng ). Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thùy D phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Về hình phạt: Xử phạt Phạm Thùy D 10 ( Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2025.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 16 màu xanh ( Thu giũ của L - đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu xám ( Thu giữ của D - đã qua sử dụng); 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng ( thu giữ của T - đã qua sử dụng)không gắn sim và số tiền 7.500.000 đồng ( trong đó T1 góp 3.500.000 đồng và T góp 3.500.000 đồng ). Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

(Vật chứng, tài sản hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Hà Nội quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/9/2025)

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND khu vực 11 – Hà Nội;

- VSKND TP Hà Nội;

- Công an Thành phố Hà Nội;

- Phòng THADS khu vực 11 – Hà Nội;

- Bị cáo, Người liên quan;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Hứa Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hứa Thị Hà

Cỡ chữ