vanban.org

Bản án 79/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn phạm tội "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng". * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NQA phạm tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC I - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HSST
Ngày: 30/9/2025.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Luận - Công an nghỉ hưu.

2. Bà Nguyễn Thị Loan - Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1

- Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Đinh Ngọc Thùy, bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2025/HSST, ngày 19 tháng 9 năm 2025 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2025/QĐXXST - HS, ngày 19 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn QA - sinh ngày 17/5/2007. Giới tính: Nam. Căn cước công dân số: 038207011701. Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn ĐT và bà Nguyễn Thị Thủy. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn : Ông Nguyễn ĐT, sinh năm 1983 (là bố đẻ). Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn VT, sinh ngày 25/8/2009. Nơi cư trú: Phố 7, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn VT: Anh Nguyễn VM, sinh năm 1977 (là bác ruột). Nơi cư trú: Phố 7, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Anh Lê Khả VH, sinh ngày 21/12/2010. Nơi cư trú: Phố 3, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Lê Khả VH: Anh Lê KH, sinh năm 1988 (là bố đẻ). Nơi cư trú: Phố 3, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn VD, sinh ngày 18/4/2011. Nơi cư trú: Phố 5, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn VD: Anh Nguyễn Viết Hiếu, sinh năm 1991 (là bố đẻ). Nơi cư trú: Phố 5, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

3. Anh Nguyễn TT, sinh ngày 05/11/2010. Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn TT: Anh Nguyễn Trọng Thanh, sinh năm 1978 (là bố đẻ). Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

4. Anh Nguyễn DL, sinh ngày 27/02/2010. Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn DL: Chị Lê Thị Lộc, sinh năm 1987 (là mẹ đẻ). Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

5. Anh Lâm TV, sinh ngày 02/3/2009. Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Lâm TV: Anh Lâm Hữu Thủy, sinh năm 1987 (là bố đẻ). Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

6. Anh Nguyễn NH, sinh ngày 29/6/2010. Nơi cư trú: Phố 5, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn NH: Chị Nguyễn Thị Xoan, sinh năm 1990 (là bmẹ đẻ). Nơi cư trú: Phố 5, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

7. Anh Nguyễn DĐ, sinh ngày 03/3/2010. Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn DĐ: Anh Nguyễn Doãn Cương, sinh năm 1974 (là bố đẻ). Nơi cư trú: Phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/4/2025, Nguyễn VT, sinh ngày 25/8/2009; Nguyễn DL, sinh ngày 27/02/2010; Nguyễn TT, sinh ngày 05/11/2010; Nguyễn DĐ, sinh ngày 04/03/2010; Lâm TV, sinh ngày 02/03/2009; Nguyễn Xuân Hiếu, sinh ngày 14/8/2009, Nguyễn VD, sinh ngày 18/04/2010, Nguyễn NH, sinh ngày 29/6/2010 và Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 23/8/2010, cùng trú tại phường QP, tỉnh Thanh Hóa đang ngồi chơi tại đường bờ Sông Mã thuộc phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa thì Lê Khả VH, sinh ngày 21/12/2010 trú tại phố 3, phường QP, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe máy BKS: 36AC -599.64 chở Phạm Hải Đăng, sinh ngày 19/4/2010 và Phạm Minh Đức, sinh ngày 30/7/2009 đi ngang qua. Do có mâu thuẫn từ trước nên khi thấy nhóm của Hoàng đi qua, Nguyễn TT chạy ra dùng chân đạp về phía xe máy của Hoàng nhưng không trúng. Hoàng, Đăng, Đức tiếp tục đi lên bờ đê Sông Mã thuộc phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa.

Khoảng 05 phút sau, Lâm điều khiển xe máy BKS: 36B8 - 619.90 chở Thắng và Hiếu; Văn điều khiển xe máy điện BKS: 36AC - 620.91 chở Thành và Đạt, còn Lâm, Duy đi bộ lên bờ đê tìm nhóm Hoàng. Do không thấy Hoàng, Đăng, Đức thì gặp Nguyễn cùng một số thanh niên, Thắng có hỏi “Anh có thấy ba người đi xe qua đây không”, thì chỉ chỗ nhóm ba người (Hoàng, Đăng, Đức) và hỏi Thắng “có việc gì đấy”, Thắng trả lời “mấy thằng kia hôm trước đánh em gần chết, hôm nay em phải trả thù”. Thấy Thắng nói vậy, chỉ về hướng Hoàng, Đăng, Đức và rút trong người ra một con dao bằng kim loại đưa cho Thắng, Thắng sử dụng con dao này chém Hoàng 02 phát trúng vào bả vai trái và tay phải, còn Thành, Đạt, Văn, Lâm, Duy, Huy dùng tay, chân đấm, đá vào người Hoàng. Sau đó, chạy lại giật lấy con dao từ tay Thắng, Hoàng bỏ chạy thì sự việc dừng lại.

Về nhà, Nguyễn cất con dao ở đầu giường trong phòng ngủ. Sau khi được Công an phường QP mời đến làm việc, đã tự nguyện giao nộp con dao mà đưa cho Thắng để Thắng chém thương tích Hoàng để phục vụ điều tra.

Hậu quả, anh Lê Khả VH bị 01 (một) vết thương tại vị trí khuỷu tay phải, kích thước (01cm x 04cm), bờ mép sắc gọn, chảy máu; 01 (một) vết thương tại vị trí bả vai trái, kích thước (01cm x 02cm), bờ mép sắc gọn, chảy máu.

Tại Bản kết luận gám định tổn thương cơ thể số: 164/KLTTCT-PYTH ngày 11/6/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế Thanh Hóa, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Lê Khả VH tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).

Ngày 16/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của gia đình và Lê Khả VH, việc rút yêu cầu của gia đình và Hoàng là tự nguyện, không bị đe dọa, ép buộc, đúng quy định của pháp luật, nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn về tội Cố ý gây thương tích.

Tại Kết luận giám định số 1752/KL-KTHS, ngày 23/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 01 (một) vật bằng kim loại dài 32,5cm gửi giám định là dao sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” ban hành theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an. Nếu dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật thì thuộc vũ khí quân dụng.

Đối với hành vi đánh nhau, gây thương tích của các trường hợp có liên quan gồm: Nguyễn VT, Nguyễn DL, Nguyễn TT, Nguyễn DĐ, Lâm TV, Nguyễn VD, Nguyễn NH đã được giải quyết, xử lý trong vụ việc “Cố ý gây thương tích” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa thụ lý giải quyết, nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa không xem xét, xử lý trong vụ án này.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” của Nguyễn VT, do tại thời điểm Thắng thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, nên không có căn cứ để khởi tố Nguyễn VT về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Ngày 15/7/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản đề nghị Công an phường QP, tỉnh Thanh Hóa lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Nguyễn VT.

* Vật chứng vụ án: 01 (một) con dao do Nguyễn đưa cho Nguyễn VT gây thương tích cho Lê Khả VH là vật chứng của vụ án được chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Thanh Hóa để bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS-P1 ngày 18/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Thanh Hóa tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 124; Điều 119; Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Nguyễn từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa catton được gián kín niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (bên trong có chứa 01 con dao), vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo đã thống nhất với lời khai của những người tham gia tố tụng khác về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoản 20 giờ ngày 18/4/2025, tại khu vực bờ đê Sông Mã thuộc phố 6, phường QP, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn đã thực hiện hành vi dùng dao sắc nhọn có tính sát thương cao đưa cho Nguyễn VT để Thắng sử dụng gây thương tích cho anh Lê Khả VH, bị tổn thương cơ thể tỉ lệ 02%.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bởi hành vi Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về vũ khí quân dụng, là nguyên nhân dẫn tới làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nguyễn là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; có ông nội là người có công với Cách Mạng được tặng thưởng Huân, Huy chương, Bằng khen. Cho nên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những nhận xét đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo lần đầu phạm tội, có thái độ ăn năn, hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ, tạo điều kiện để bị cáo trở thành công dân tốt, thể hiện sự khoang hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ xung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa catton được gián kín niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (bên trong có chứa 01 con dao), vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 124; Điều 119; Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn phạm tội "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng".

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn cho Ủy ban nhân dân phường QP, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy đinh của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa catton được gián kín niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (bên trong có chứa 01 con dao), theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 49/2025/KV1, vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thanh Hóa.

* Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ