vanban.org

Bản án 79/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Gia N.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Gia N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hồng L. Về nuôi con chung: Anh Lê Gia N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê H, sinh ngày 05-9-2017. Hiện anh N đang nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Gia Nghiệp-Nguyễn Thị Hồng Liên"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Gia N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06-5-2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước và ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 438/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Gia N, sinh năm 1995;

Địa chỉ: Số A, Tổ H, Ấp I, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.

(Anh N có mặt, chị L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; nguyên đơn anh Lê Gia N trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Hồng L tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống với nhau, thường xuyên cự cãi, làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ năm 2022 anh và chị L đã sống ly thân cho đến nay. Nay anh yêu cầu ly hôn với chị L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê H, sinh ngày 05-9-2017; hiện con chung đang sống với anh. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

* Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng L:

Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đã tống đạt các văn bản tố tụng, đồng thời triệu tập chị L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa;

Nguyên đơn anh Lê Gia N có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng L vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:

- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Gia N, cho anh Lê Gia N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hồng L; về con chung, giao con chung tên Lê H, sinh ngày 05-9-2017 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung là không có nên không đặt ra xem xét; buộc anh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ tại huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh N, chị L là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01-6-2017. Trong quá trình chung sống, hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên anh chị đã sống ly thân từ giữa năm 2022 cho đến nay. Nay anh N yêu cầu ly hôn với chị L. Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa anh N, chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N, cho anh N được ly hôn với chị L là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê H, sinh ngày 05-9-2017. Khi ly hôn, anh N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Xét thấy, từ năm 2022 đến nay cháu H sống chung với anh N, để ổn định cuộc sống và cũng theo nguyện vọng của cháu H muốn sống chung với anh N; Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu H cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Cấp dưỡng cho con: Anh N không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con chung, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Anh N xác định, anh và chị L không có nợ chung; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Gia N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Gia N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hồng L.

2. Về nuôi con chung: Anh Lê Gia N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê H, sinh ngày 05-9-2017. Hiện anh N đang nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Hồng L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Lê Gia N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0021380 ngày 28-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; anh N đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Nghiệp có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ