- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nga - Chí"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Huỳnh Thúy N và ông Dương Văn C là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 4 – 2025 “V/v Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Bà Nguyễn Kim Huệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thúy N, sinh năm: 1979 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn Cái Đôi V, huyện Phú T, tỉnh Cà M.
Bị đơn: Ông Dương Văn C, sinh năm: 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Cái Đôi Nh, xã Nguyễn Việt Kh, huyện Phú T, tỉnh Cà M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thúy N là nguyên đơn thể hiện:
Về hôn nhân: Bà và ông Dương Văn C xác lập quan hệ vợ chồng vào năm năm 1993, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán ở địa phương, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông, bà bất đồng quan điểm, dẫn đến cự cải thường xuyên nên ông, bà không thể tiếp tục chung sống được nữa. Mâu thuẫn giữa vợ chồng cha, mẹ hai bên có tổ chức hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Ông, bà đã không còn chung sống với nhau từ năm 2012 cho đến nay. Bà Nga cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Dương Văn C.
Về con chung: Bà N xác định: Ông, bà có hai người con chung tên Dương Thị T, sinh năm: 1994, Dương Cẩm L, sinh năm: 2001, hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Bà N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà N khai vợ chồng ông, bà không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà.
Đối với ông Dương Văn C, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Dương Văn C đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Dương Văn C vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Huỳnh Thúy N về việc xin ly hôn với ông Dương Văn C thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; ông Chí là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Cái Đôi Nhỏ, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Dương Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do. Bà Huỳnh Thúy N có đơn xin không tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nga, ông Chí theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thúy N và ông Dương Văn C tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán ở địa phương. Có đủ điều kiện kết hôn nhưng ông, bà không có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông, bà đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, cho nên hôn nhân giữa ông, bà không thỏa mãn về mặt hình thức. Nay bà N yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn dẫn đến cự cãi thường xuyên, không tin tưởng lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt. Ông, bà đã không còn chung sống với nhau từ năm 2012 đến nay mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn.
Xét mâu thuẫn thực tế của bà N và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời, hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên ông, bà không được công nhận là vợ, chồng.
Về con chung: Bà N xác định: Ông, bà có hai người con chung tên Dương Thị T, sinh năm: 1994, Dương Cẩm L, sinh năm: 2001, hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Bà N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà N khai vợ chồng ông, bà không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Huỳnh Thúy N và ông Dương Văn C là vợ chồng.
2. Về con chung: Bà N xác định: Ông, bà có hai người con chung tên Dương Thị T, sinh năm: 1994, Dương Cẩm L, sinh năm: 2001, hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Bà N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà N khai vợ chồng ông, bà không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 25 tháng 02 năm 2025, bà Nga đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003860 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà N, ông C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND Tp Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |