vanban.org

Bản án 79/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về hôn nhân: Cho bà Bùi Thị D được ly hôn với ông Trương Đình T. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho bà Bùi Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu Trương Tấn P, sinh ngày 05-6-2019. Ông Trương Đình T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị D- Trương Đình T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19-9-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Tình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Ngân

2. Ông Lê Ngọc Phi

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh N – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 316/2024/TLST-HNGĐ19 tháng 7 năm 202 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1994.

Địa chỉ: H, ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Trương Đình T, sinh năm 19.

Địa chỉ: H, ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà D có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Bùi Thị D trình bày:

Bà D và ông Trương Đình T tự nguyện chung sống từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T (nay là phường H, thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03-10-2016.

Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, nhiều mâu thuẫn nhỏ nhặt không thể hoà giải được. Mặt khác ông T không lo làm ăn, đánh đập bà nên ông bà không thể chung sống được. Đến tháng 01/2022 bà và ông T đã sống ly thân. Nay bà D xác định tình cảm không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà D và ông T có 01 con chung Trương Tấn P, sinh ngày 05-6-2019. Sau khi ly hôn bà Bùi Thị D yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bà D vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Trương Đình T trình bày:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho bị đơn ông T, để ông T thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Nhưng ông T vắng mặt theo các giấy triệu tập, thông báo, quyết định của Tòa án mà không có lý do chính đáng và cũng không thể hiện ý kiến, cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cho Tòa án.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Trương Đình T vắng mặt.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Buộc bà D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Bùi Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Trương Đình T, sinh năm 197; địa chỉ: H, ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và yêu cầu về nuôi con chung vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Đình T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa, nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D, ông T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị D và ông Trương Đình T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, được ủy ban nhân dân xã H, huyện T (nay là phường H, thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 120 ngày 03-10-2016 nên hôn nhân của ông bà được công nhận là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị D:

Theo bà D trình bày thì quá trình ông bà chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên đánh đập bà, không phụ giúp chăm lo gia đình dẫn tới mâu thuẫn ngày càng nhiều, không thể hoà giải được. Ông bà đã chính thức sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T không tham gia tố tụng, không có ý kiến để hàn gắn tình cảm gia đình. Bà D xác định mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, đến nay bà D không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu được ly hôn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà D về việc xin ly hôn với ông T là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị D và ông Trương Đình T có 01 con chung là Trương Tấn P, sinh ngày 05/6/2019. Sau khi ly hôn, bà Bùi Thị D1 được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét cháu P đang ở cùng bà D, ở liên tục, ổn định, bà D vẫn chăm sóc tốt cho cháu. Để ổn định cuộc sống, cũng như đảm bảo về sự phát triển về thể chất, tinh thần và quyền lợi cho cháu P, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cháu P cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con bà D không yêu cầu nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bà D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Cho bà Bùi Thị D được ly hôn với ông Trương Đình T.

2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho bà Bùi Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu Trương Tấn P, sinh ngày 05-6-2019. Ông Trương Đình T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Trương Đình T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001159 ngày 19-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19-9-2024) các đương sự có mặt có quyền kháng cáo. Đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ