- Tranh chấp gì? án hình sự — "La Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:79/2023/HS-ST Ngày 30/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Thủy và bà Phạm Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Phương Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: La Văn V - sinh năm: 1998. Tại: huyện V, tỉnh L. Nơi đăng ký HKTT: thôn B, xã C, huyện V, tỉnh L.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: không.
Trình độ văn hoá: 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: La Văn S và bà Sầm Thị V.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; theo lệnh trích suất có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo La Văn V: Bà Đỗ Thị Hải - Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên; Có mặt
* Người làm chứng:
- Anh Phạm Đình L, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn 14, xã N, huyện V, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 02/3/2023, tại đường bê tông Thôn 14, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hưng Yên cùng Công an xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang bắt quả tang La Văn V, sinh năm 1998, thôn Bẻ 2, xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đang giấu ma túy trong người. Kiểm tra tại túi áo khoác bên phải của La Văn V thu giữ 01 nilon bên trong có 06 gói giấy bạc chứa chất dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu MT1) và 01 thẻ căn cước công dân mang tên La Văn V.
Bản kết luận giám định số 152/KL-KTHS(MT) ngày 05/3/2023 kết luận: Chất dạng cục và bột màu trắng niêm phong ghi ký hiệu MT1 là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,830 gam.
Tại cơ quan điều tra, La Văn V khai nhận bản thân nghiện ma túy (heroine) nên thường mua ma túy về sử dụng. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ La Văn V khai sáng ngày 02/3/2023,V đến khu vực nghĩa trang nhân dân thôn 14, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 500.000 đồng được 07 gói; V sử dụng 01 gói; Số ma túy còn lại 06 gói, V giấu trong túi áo khoác bên phải rồi đi bộ về đến khu vực đường bê tông thôn 14, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang đã bị Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang. Số ma túy La Văn V mua về mục đích để sử dụng.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy do V không biết rõ tên, tuổi địa chỉ nên không đủ thông tin xác minh xử lý.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 152/KL-KTHS( MT) bên trong chứa 0,803 gam ma túy, loại heroine; 01 thẻ căn cước công dân mang tên La Văn V hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh Hưng Yên.
Tại Bản cáo trạng số 75/CT-VKS-P1 ngày 15/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo La Văn V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo La Văn V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố; Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo La Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt La Văn V từ 01 năm 3 tháng đến 1 năm 6 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo V.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho hủy bỏ 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.
Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên La Văn V vì không liên quan đến việc phạm tội.
Bà Đỗ Thị Hải, Trợ giúp viên pháp lý, bào chữa cho bị cáo La Văn V có quan điểm: Nhất trí với tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân không có công ăn việc làm ổn định. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo do nhà nước quản lý. Áp dụng điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xử phạt bị cáo 1 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như; Biên bản bắt người phạm tội quả tang,Bản kết luận giám định số 152/KL-KTHS(MT) ngày 05/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 20 phút ngày 02/3/2023, tại đoạn đường bê tông Thôn 14, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang; La Văn V tàng trữ trái phép 0,830 gam là ma túy, loại heroine nhằm mục đích để sử dụng đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang.
Bị cáo La Văn V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được ma túy là chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã mua, tàng trữ ma túy. Hành vi của bị cáo La Văn V cất giấu trong túi áo khoác bên phải là 0,830 gam heroine đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo La Văn V là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo biết rất rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội, là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm, vi phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội... Nhưng vì nghiện ma túy mà bị cáo đã bất chấp để phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh nhằm cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo:
* Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo La Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo La Văn V thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về việc làm của mình, bị cáo là người dân tộc, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
. Về hình phạt:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo La Văn V là nghiêm trọng, căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy cần xét xử vụ án nghiêm minh, dành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo La Văn V là người nghiện, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp:
- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 152/KL-KTHS( MT) bên trong chứa 0,803 gam ma túy, loại heroine là chất Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ nên tịch thu cho tiêu hủy;
Trả lại bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên La Văn V không liên quan đến vụ án, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh Hưng Yên.
. Về án phí:
Bị cáo La Văn V phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo La Văn V phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo La Văn V 01(Một) năm 3(ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/3/2023.
[2]. Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu cho hủy bỏ 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.
- Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên La Văn V không liên quan đến vụ án.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên với Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
[3]. Về án phí:
Bị cáo La Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo La Văn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Tuấn |