- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thảo A C - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T A C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN T TỈNH LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2023/HS-ST Ngày 15-8-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Cường; Bà Lương Thị Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp -Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A C, tên gọi khác: Thào A Kểnh, sinh năm 1975 tại huyện T, Lai Châu. Nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A L, đã chết và con bà Vừ Thị S, đã chết; vợ: Sùng Thị sinh năm 1988; con: có 06 con, con lớn sinh nhất năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2014/HSST ngày 25/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt T A C 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 07/8/2016, T A C chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Hiện bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 21/4/2023 đến ngày 27/4/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Hố Mít, huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Trần Văn H sinh năm 1988; địa chỉ: bản Sơn Hà, xã Pắc Ta, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Chị Sùng Thị S1, sinh năm 1975; địa chỉ: bản T, xã Hố Mít, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Đặng Văn Hồng, sinh năm 1975, trú tại bản Pắc Ta, xã Pắc Ta, huyện T thuê anh Trần Văn H lái máy xúc của Hùng san gạt công trình đường dân sinh bản T, xã Hố Mít, huyện T đi bản Tà Hử, xã Hố Mít, huyện T. Trước khi thi công công trình đường dân sinh bản T, xã Hố Mít, huyện T, chính quyền địa phương đã họp bản và gia đình C đã thống nhất hiến đất trên phần bờ kè đá của gia đình để làm đường.
Sáng ngày 21/4/2023, Hùng bắt đầu lái 01 máy xúc nhãn hiệu DOOSAN, loại máy 140DX, được mua năm 2015 với giá 1.350.000.000 đồng thi công đoạn đường nói trên. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, T A C đến bảo với anh Đặng Văn Hồng và anh Hùng lái máy xúc san gạt mặt đường là không được làm đổ bờ kè đá của gia đình C. Sau đó, C được con trai tên là T A Vềnh điều khiển xe mô tô chở đi uống thuốc Methadone tại Trạm Y tế xã Pắc Ta, huyện T. Sau đó C quay về uống bia, rượu cùng với một số người khác tại bản Trung Tâm, xã Hố Mít, huyện T.
Trong quá trình san gạt mặt đường anh Hùng có điều khiển máy xúc làm đổ một số đoạn bờ kè đá của gia đình C. Đến 11 giờ cùng ngày, Vềnh chở C về gần đến nhà thì thấy anh Hùng lái máy xúc đã làm đổ một số đoạn bờ kè đá của gia đình nên C bực tức và về nhà lấy 01 con dao nhọn có tổng chiều dài 51cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao màu xám dài 38cm, lưỡi dao nhọn nơi rộng nhất 05cm đến giơ dao về phía anh Hùng rồi chửi bới. Sau đó C dùng 01 đoạn gậy tre dài khoảng 02m đến đập nhiều nhát vào thân máy xúc nhưng không gây hỏng hóc gì. Lúc này có vợ C tên là Sùng Thị S1 đến can ngăn C nhưng do C bực tức và say rượu nên C nhiều lần nhặt đá ở trên đường ném về phía máy xúc, trong đó C nhặt 01 hòn đá màu nâu sẫm có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 05cm, dài 07cm ném trúng và làm vỡ 01 tấm kính cường lực 04 lớp (loại kính hạt ngô) ở sườn bên phải tay lái của máy xúc. Sau khi sự việc xảy ra, anh Hùng gọi điện trình báo Công an xã Hố Mít, huyện T. Đến hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, T A C bị Công an huyện T giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL- HĐĐGTS ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 tấm kính cường lực 04 lớp (loại kính hạt ngô, sườn bên phải tay lái máy xúc) của máy xúc DOOSAN 140DX sản xuất năm 2007 có trị giá là 3.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 64/CT -VKS - TU, ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện T để xét xử T A C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T A C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s, b, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T A C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 hòn đá màu nâu sẫm có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 05cm, dài 07cm; 01 con dao nhọn có tổng chiều dài 51cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao màu xám dài 38cm, lưỡi dao nhọn nơi rộng nhất 05cm xét thấy cần tịch thu tiêu hủy do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Trần Văn H số tiền 9.000.000 đồng bao gồm tiền mua kính, công vận chuyển và lắp đặt kính máy xúc; Anh Hùng đã trả số tiền 2.000.000 đồng cho bị cáo C để sửa chữa lại bờ kè đá của gia đình và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo T A C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan C sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo T A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Do bực tức và cho rằng anh Trần Văn H lái máy xúc thi công san gạt đường đã cố ý làm đổ một số đoạn bờ kè đá của gia đình T A C, nên khoảng 11 giờ ngày 21/4/2023 tại bản T, xã Hố Mít, huyện T, tỉnh Lai Châu bị cáo T A C đã dùng 01 hòn đá màu nâu sẫm có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 05cm, dài 07cm ném vỡ 01 tấm kính cường lực 04 lớp (loại kính hạt ngô, sườn bên phải tay lái máy xúc) của máy xúc DOOSAN 140DX sản xuất năm 2007 có trị giá là 3.500.000 đồng của anh Trần Văn H, mục đích của T A C là cố ý làm hư hỏng tài sản của anh Hùng, thỏa mãn bực tức của bản thân.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những ảnh hưởng đến tài sản của bị hại mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân: Ngày 25/11/2013 Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt T A C 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, bị cáo đã từng bị xét xử và đã đi chấp hành án 03 năm nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, bị cáo thường xuyên sử dụng rượu bia dẫn đến mất kiểm soát hành vi nên xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm ruộng thu nhập thấp, không ổn định nên cần xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng do Trần Văn H giao nộp là 01 thẻ nhớ nhãn hiệu MIXIE dung lượng 32GB video có thời lượng 02 phút 12 giây ghi lại việc T A C chửi bới, đe doạ và dùng đá ném làm vỡ tấm kính sườn bên phải tay lái máy xúc, là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường: 01 hòn đá màu nâu sẫm có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 05cm, dài 07cm và vật chứng do T A C giao nộp: 01 con dao nhọn có tổng chiều dài 51cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao màu xám dài 38cm, lưỡi dao nhọn nơi rộng nhất 05cm xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với phần tài sản bị thiệt hại của anh Trần Văn H, bị cáo C đã bồi thường cho anh Hùng số tiền 9.000.000 đồng bao gồm tiền mua kính, công vận chuyển và lắp đặt kính máy xúc.Anh Hùng đã nhận đủ số tiền trên và không đề nghị gì thêm do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nên cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các đối tượng, hành vi liên quan đến vụ án:
Trong vụ án này, Trần Văn H là người lái máy xúc đã san gạt làm đổ một số đoạn bờ kè đá của bị cáo C. Quá trình điều tra xác định, khi thi công công trình đường dân sinh bản T, xã Hố Mít, huyện T, chính quyền địa phương đã họp bản và gia đình C thống nhất hiến đất trên phần bờ kè đá của gia đình để làm đường nên Cơ quan C sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với hành vi của anh Trần Văn H là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 178; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo T A C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 10 (Mười) tháng tù, trừ 06 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 09 tháng 24 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 hòn đá màu nâu sẫm có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 05cm, dài 07cm và vật chứng do T A C giao nộp: 01 con dao nhọn có tổng chiều dài 51cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao màu xám dài 38cm, lưỡi dao nhọn nơi rộng nhất 05cm
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút, ngày 14/8/2023 giữa Cơ quan C sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân cấp trên./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện T; - Chi Cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - Bị cáo; - Bị hại. - Lưu HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |