vanban.org

Bản án 79/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Danh Thị Sà P và ông Lưu Kim Đ. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung tên cháu Lưu Ngọc Á (nữ, sinh ngày 28/4/2016) và cháu Lưu Bảo N (nữ, sinh ngày 07/9/2019) cho bà Danh Thị Sà P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu Á và cháu N đủ 18 tuổi. Ông Lưu Kim Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA DANH THI SA P - LUU KIM D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07-12-2023
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dư Văn Thanh

Ông Đào Khel

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 189/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Danh Thị Sà P, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Số B đường X, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Ông Lưu Kim Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số B đường T, khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 02 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Danh Thị Sà P trình bày:

Bà Danh Thị Sà P và ông Lưu Kim Đ tự nguyện kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 80/2014, quyển số 01, cấp ngày 08/12/2014. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Nhưng đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hiểu và thông cảm cho nhau, thường xuyên cải nhau. Từ cuối năm 2020 ông Đ đã chuyển về sống chung với gia đình ông Đ tại số B đường T, khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng sinh sống và vợ, chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Bà P nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P quyết định ly hôn. Quá trình chung sống bà P và ông Đ có hai người con chung là cháu Lưu Ngọc Á (nữ, sinh ngày 28/4/2016) và cháu Lưu Bảo N (nữ, sinh ngày 07/9/2019) hiện hai cháu đang sống chung với bà P, không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.

Nay bà Danh Thị Sà P yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lưu Kim Đ.

Về con chung: Bà P yêu cầu được nuôi dưỡng hai người con chung tên cháu Lưu Ngọc Á (nữ, sinh ngày 28/4/2016) và cháu Lưu Bảo N (nữ, sinh ngày 07/9/2019) đến khi các cháu Á và cháu N đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Bị đơn ông Lưu Kim Đ từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì.

- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa bị đơn ông Lưu Kim Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Đính.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Danh Thị Sà P, về quan hệ hôn nhân của bà Danh Thị Sà P và ông Lưu Kim Đ không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Nhưng đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hiểu và thông cảm cho nhau, thường xuyên cải nhau. Từ năm 2020 ông Đ đã chuyển về sống chung với gia đình ông Đ tại số B đường T, khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng sinh sống và vợ, chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Bà P nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P quyết định ly hôn. Tại tòa bà P xác định không còn tình cảm với ông Đ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và kiên quyết xin ly hôn với ông Đ. Đồng thời, ông Đ, bà P đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà P yêu cầu được nuôi dưỡng hai người con chung tên cháu Lưu Ngọc Á (nữ, sinh ngày 28/4/2016) và cháu Lưu Bảo N (nữ, sinh ngày 07/9/2019) đến khi các cháu Á và cháu N đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Á, cháu Á có nguyện vọng được sống chung với bà P. Xét thấy, từ khi ông Đ và bà P sống ly thân năm 2020 đến nay, hai cháu Á và cháu N đều do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tâm sinh lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu Á, tránh xáo trộn môi trường sống ảnh hưởng đến tâm lý của cháu Á. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, giao cháu Á cho bà P được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu Á đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử xét không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Danh Thị Sà P, tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Như đã phân tích nêu trên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Danh Thị Sà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Danh Thị Sà P và ông Lưu Kim Đ.

2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung tên cháu Lưu Ngọc Á (nữ, sinh ngày 28/4/2016) và cháu Lưu Bảo N (nữ, sinh ngày 07/9/2019) cho bà Danh Thị Sà P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu Á và cháu N đủ 18 tuổi. Ông Lưu Kim Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lưu Kim Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Danh Thị Sà P tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Danh Thị Sà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009684 ngày 03/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; bà Danh Thị Sà P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Ông Lưu Kim Đ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ