vanban.org

Bản án 79/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Viết A được ly hôn với ông Nguyễn Thị Mỹ H. Về con chung: Giao cháu tên Đỗ Viết S (nam), sinh ngày 14/02/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu tròn 18 tuổi, ông A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh châps ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13/7/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hoàng Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thanh Dũng

2. Ông Tăng Hoàng Đa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.

.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 273/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/11/2022, về việc:“Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 375/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/7/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Viết A, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp T1, xã Tr, huyện T, thành phố Cần Thơ (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp T1, xã Tr, huyện T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông A trình bày: Ông và bà H qua thời gian tìm hiểu và tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn năm 2006, tại UBND xã Trường Xuân A, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn như tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, hai bên tìm nhiều giải pháp hàn gắn nhưng không thành và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Viết S (nam), sinh ngày 14/02/2006 và Đỗ Thị Thu T (nữ), sinh ngày 19/4/2002 đang sống với bà H nên đồng ý để bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có

Bị đơn trình bày: vắng mặt không rõ ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay,

Ông A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và khẳng định không còn tình cảm với bà H, về con chung đồng ý để bà H được tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ông A khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H do phát sinh mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn và bị đơn có địa chỉ tại huyện Thới Lai nên căn cứ các điều 28, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn như tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, hai bên tìm nhiều giải pháp hàn gắn nhưng không thành và đã sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, ông bà đã có thời gian dài sống ly thân, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Viết S (nam), sinh ngày 14/02/2006 và Đỗ Thị Thu T (nữ), sinh ngày 19/4/2002. Cháu Đỗ Thị Thu T đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết, cháu Đỗ Viết S đang sống với bà H nên tiếp tục giao bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông khai không có nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Từ những phân tích nêu trên, có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147 và Điều 273, Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Viết A được ly hôn với ông Nguyễn Thị Mỹ H.

2. Về con chung: Giao cháu tên Đỗ Viết S (nam), sinh ngày 14/02/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu tròn 18 tuổi, ông A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông A không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: ông khai không có nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005819 ngày 15/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành án phí.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Cỡ chữ