- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 8- 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Tình; ông Đào Quang Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2023/QĐST- HNGĐ ngày 09/08/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1996
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt chị H và anh T (Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đinh Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 21/01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống với nhau được một thời gian hạnh phúc, hòa thuận thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ, chồng bất đồng nhiều quan điểm sống dẫn đến bất hòa kéo dài. Chị và anh T đã sống ly thân được hơn 02 năm nay. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ, chồng không còn, hạnh phúc đã thật sự tan vỡ nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim H1, sinh ngày 16/02/2014 và cháu Nguyễn Triệu L, sinh ngày 24/9/2017. Từ khi vợ, chồng sống ly thân các con ở với bố và gia đình bà nội. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cả hai con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi con, cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập anh Nguyễn Văn T để nộp bản tự khai và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lí do. Do đó không có ý kiến của anh T trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83; 116; 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim H1, sinh ngày 16/02/2014 và cháu Nguyễn Triệu L, sinh ngày 24/9/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng cho mỗi con (Hai con là 2.000.000đ mỗi tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 08/2023 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Chị Đinh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T. Anh T cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh T vắng mặt không có lí do, nên tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh T và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh T theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh T đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Anh T cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Đinh Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh T.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/01/2014 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ, chồng thường xuyên bất hòa. Chị H và anh T đã sống ly thân hơn 02 năm. Điều đó chứng tỏ chị H và anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim H1, sinh ngày 16/02/2014 và cháu Nguyễn Triệu L, sinh ngày 24/9/2017. Từ khi chị H và anh T sống ly thân, cháu H1 và cháu L ở với bố và ông, bà nội. Xét nguyện vọng của chị H giao cả hai con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi con. Quá trình giải quyết vụ án anh T không có ý kiến về nội dung này. Do đó nguyện vọng của chị H là chính đáng nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho con. Nên chấp nhận yêu cầu của chị H giao cháu Nguyễn Thị Kim H1, sinh ngày 16/02/2014 và cháu Nguyễn Triệu L, sinh ngày 24/9/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng cho mỗi con (Hai con là 2.000.000đ mỗi tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 08/2023 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56; 58; 81; 82; 83; 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim H1, sinh ngày 16/02/2014 và cháu Nguyễn Triệu L, sinh ngày 24/9/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng cho mỗi con (Hai con là 2.000.000đ mỗi tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 08/2023 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.
Chị Đinh Thị H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số AA/2021/0008050 ngày 18/5/2023. Chị Đinh Thị H còn phải nộp số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn T. Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thạch Thành; - UBND xã Thạch Quảng; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Bùi Văn Hải |