- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Q - H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2023 V/v: “Ly hôn giữa anh Q và chị H” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà
Bà Đặng Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: bà Trần Thị
Tình – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 106/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1995(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 2000(vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Ph, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Trần Văn Q trình bày: Anh kết hôn với chị Đặng Thị H trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Nam Định ngày 11 tháng 5 năm 2022.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được khoảng 20 ngày thì chị H tự ý bỏ nhà đi mà không có lý do gì. Anh đã khuyên can nhưng chị H vẫn không quay về. Vì thế từ tháng 6 năm 2022 đến nay vợ chồng anh ly thân. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đặng Thị H.
Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 05/7/2023, bị đơn chị Đặng Thị H trình bày: Chị và anh Trần Văn Q kết hôn ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không H phúc do không cùng quan điểm sống. Từ tháng 7 năm 2022 đến nay vợ chồng chị ly thân. Nay anh Trần Văn Q muốn ly hôn, chị đồng ý.
Về con chung: vợ chồng chị không có con chung, hiện chị cũng không mang thai
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
Về đường lối giải quyết:
Căn cứ điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Văn Q. Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H.
2. Về án phí DSST: anh Q phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn;
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật./
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Nam Định; Vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, giữa anh Q và chị H chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do 2 vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung. Từ năm 2022 đến nay anh Q và chị H ly thân. Nay anh Q xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H không còn; anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn. Chị H nhất trí với yêu cầu xin của anh Q.
Xét thấy cuộc hôn nhân giữa anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được; Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn Q đối với chị Đặng Thị H.
Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết
Về tài sản: Anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Trần Văn Q phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn Q, chị Đặng Thị H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn Q và chị Đặng Thị H
2.Về án phí: Anh Trần Văn Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu số 0000538 ngày 22/6/2023.
3.Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn Q, chị Đặng Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày bản án được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hương
Nguyễn Văn Hà
Bùi Xuân Thọ
T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 01 bản - VKSND, tỉnh, huyện: 02 bản - Chi cục THA huyện N: 01 bản - UBND xã B: 01 bản - Các đương sự - Lưu hồ sơ, Lưu VP | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thọ |