vanban.org

Bản án 79/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về yêu cầu khởi kiện:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Bích H. Buộc vợ chồng ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Ngô Thị Bích H và ông Nguyễn Đức L số tiền gốc 60.000.000 đồng và lãi 10%/năm, tính từ ngày khởi kiện 12/4/2023 cho đến ngày xét xử là 3 tháng 7 ngày tổng là 1.616.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hồng - giang"
  • Tòa quyết gì? Về yêu cầu khởi kiện:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/DS-ST
Ngày: 19-7-2023
V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA – BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Trứ

Ông Nguyễn Văn Bào

-Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND huyện Hiệp Hòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên

Ngày 19/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-DS ngày 03/7/2023; giữa:

* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Bích H, sinh năm 1969 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Ông Hà Châu Gi, sinh năm 1968 và bà Lê Thị H, sinh năm 1970.

( đều xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1967.Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. ( xin vắng mặt)

Do bà Ngô Thị Bích H đại diện theo ủy quyền

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2023, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Thị Bích H trình bày: Do có mối quan hệ quen biết, nên ngày 11/10/2022 âm lịch (tức 04/10/2022 dương lịch) bà cho ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H vay số tiền 60.000.000 đồng, lãi thỏa thuận bằng miệng là 10%/ năm, không ghi vào giấy vay tiền, không ghi thời hạn trả. Khi vay thì ông Giang và bà Hồng nói vay để làm mộc, phát triển kinh tế của gia đình. Bà xác định chữ viết trong giấy vay và chữ ký Nguyễn Đức L và Ngô Thị Bích H là do bà viết và ông Lực ký, còn chữ “Hà Châu Gi, Hồng, Lê Thị H” tại bên vay là do ông Giang và bà Hồng viết và ký. Bà xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng ông Giang và bà Hồng và là tài sản chung của vợ chồng bà. Bà đã đòi nhiều lần nhưng vợ chồng ông Giang chưa trả cho vợ chồng bà số tiền gốc và lãi nào. Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Giang, bà Hồng trả cho vợ chồng bà số tiền gốc 60.000.000 đồng, và lãi 10%/ năm tính từ ngày 11/10/2022 âm lịch (tức 04/11/2022 dương lịch) cho đến ngày xét xử. Bà đồng ý nhận sự ủy quyền của ông Nguyễn Đức L là chồng bà từ giai đoạn thụ lý đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa bà Hồng có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Bà thay đổi thời gian tính lãi suất, trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết bà yêu cầu tính lãi suất 10%/ năm tính từ ngày vay, nhưng tại phiên tòa bà thay đổi tính lãi từ ngày làm đơn khởi kiện 12/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.

*Bị đơn ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H trình bày: Ngày 11/10/2022 vợ chồng ông có vay số tiền 60.000.000 đồng, mục đích vay để làm mộc phát triển kinh tế gia đình. Ông xác định chữ ký “Hà Châu Gi, Hồng, Lê Thị H” tại bên vay là do ông Giang và vợ ông là bà Hồng viết và ký. Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi. Nay bà Hồng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả cho vợ chồng bà Hồng số tiền gốc 60.000.000 đồng, và lãi 10%/năm tính từ ngày 11/10/2022 âm lịch (tức 04/11/2022 dương lịch) cho đến ngày xét xử thì ông chỉ đồng ý trả số tiền gốc và trả dần, còn số tiền lãi ông không đồng ý trả.

Bà Hồng nhất trí với ý kiến của ông Giang, không có ý kiến nào khác. Ông Giang và bà Hồng đều xin vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử.

Tại phiên tòa ông Giang, bà Hồng xin vắng mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức L trình bày: Ông nhất trí với phần trình bày của bà Ngô Thị Bích H. Vì lý do công việc nên ông ủy quyền cho vợ ông là bà Ngô Thị Bích H tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý đến khi kết thúc vụ án, mọi quyết định của bà Hồng là quyết định của ông.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Đức L xin vắng mặt

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn chấp hành chưa tốt.

Áp dụng Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147; Điều 266; Điều 227; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Bích H.

1. Buộc vợ chồng ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Ngô Thị Bích H và ông Nguyễn Đức L số tiền gốc 60.000.000 đồng và lãi 10%/năm, tính từ làm đơn khởi kiện 12/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 3 tháng 7 ngày là 1.616.669 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 61.616.669 đồng.

2. Về án phí: ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H phải chịu 3.080.833 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và về thẩm quyền: Bà Ngô Thị Bích H khởi kiện yêu cầu vợ chồng Hà Châu Gi và bà Lê Thị H trả số tiền gốc và lãi, xác định là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản" theo Điều 463 của Bộ luật dân sự và theo Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ giữa các bên là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân. Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H xin vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người nêu trên là có căn cứ.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Ngô Thị Bích H khởi kiện yêu cầu vợ chồng Hà Châu Gi và bà Lê Thị H trả cho vợ chồng bà số tiền gốc 60.000.000 đồng và lãi 10%/ năm, tính từ ngày khởi kiện 12/4/2023 cho đến ngày xét xử thì thấy: Theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ, xác định ngày 11/10/2022 âm lịch (tức 04/11/2022 dương lịch) vợ chồng bà Ngô Thị Bích H có cho vợ chồng ông Giang và bà Hồng vay số tiền 60.000.000 đồng; Mục đích vay để làm mộc phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng ông Giang và bà Lê Thị H xác định còn nợ số tiền gốc là 60.000.000 đồng và chưa trả được đồng nào, còn về lãi suất thì phía nguyên đơn trình bày vay có lãi thỏa thuận bằng miệng là 10%/ năm, còn phía bị đơn trình bày không thỏa thuận lãi. Phía người cho vay đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền và phía người vay đã nhận đủ tiền, đến hẹn bà Hồng đòi nhưng vợ chồng ông Giang và bà Lê Thị H chưa trả được. Như vậy, vợ chồng ông Giang và bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay bà Ngô Thị Bích H có đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Giang và bà Lê Thị H có nghĩa vụ phải trả là 60.000.000 đồng và lãi 10%/ năm, tính từ ngày khởi kiện 12/4/2023 cho đến ngày xét xử là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Về nghĩa vụ trả tiền: Các bên đều xác định bên vay để về làm mộc, phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng ông Giang đều xác định là nợ chung của vợ chồng. Do vậy, buộc vợ chồng ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Ngô Thị Bích H và ông Nguyễn Đức L là có căn cứ.

Về lãi suất cho vay: Tại giấy biên nhận vay tiền đều không ghi mức lãi, phía nguyên đơn trình bày mức lãi cho vay là 10%/ năm, không có thời hạn trả nợ. Như vậy, xác định là hợp đồng vay không có thời hạn và có lãi. Trong đơn khởi kiện bà Ngô Thị Bích H yêu cầu trả mức lãi 10%/ năm tính từ ngày vay. Tại phiên tòa bà thay đổi thời gian tính lãi, bà yêu cầu tính từ ngày khởi kiện, xét thấy việc thay đổi và mức tính lãi là phù hợp, nên cần chấp nhận, thời gian tính lãi từ ngày khởi kiện 12/4/2023 cho đến ngày xét xử là 3 tháng 7 ngày tổng là 1.616.669 đồng.

Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Do các bên không thỏa thuận được nên lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Bích H được chấp nhận nên ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H phải chịu 3.080.833 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị Bích H được hoàn lại tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 3 Điều 144, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468; Điều 469 của Bộ luật dân sự; khoản 2 - Điều 26 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Bích H.

Buộc vợ chồng ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Ngô Thị Bích H và ông Nguyễn Đức L số tiền gốc 60.000.000 đồng và lãi 10%/năm, tính từ ngày khởi kiện 12/4/2023 cho đến ngày xét xử là 3 tháng 7 ngày tổng là 1.616.669 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 61.616.669 đồng.

2. Về án phí: ông Hà Châu Gi và bà Lê Thị H phải chịu 3.080.833 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Hoàn trả bà Ngô Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.575.000 đồng theo biên lai số 0002711 ngày 15/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ