vanban.org

Bản án 79/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2022. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HS-ST
Ngày: 22-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hải.

2. Ông Lê Quang Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1995, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Quốc V (chết) và bà Đỗ Thị M; Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 lần,

- Ngày 07/9/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số 45/2018/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2020.

- Ngày 07/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số 46/2020/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2022.

Nhân thân:

- Ngày 16/11/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” tại Bản án hình sự số 66/2011/HSST, chấp hành xong ngày 24/11/2012;

- Ngày 08/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số 45/2014/HSST, chấp hành xong ngày 09/10/2015.

- Ngày 08/3/2018 bị Công an Phường 2, thành phố Cao Lãnh xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tại Quyết định số 14/QĐ-XPHC.

Tạm giữ ngày 29/6/2022, tạm giam ngày 08/7/2022. Hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam công an tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Đoàn Phước Đ, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Cư trú: Số 207/01, đường C, khóm P, Phường C, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

2. Lê Việt T, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Cư trú: Số 151, đường D, tổ 50, khóm T, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

3. Nguyễn Hữu D, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Cư trú: Số 458, đường T, tổ 56, khóm Đ, Phường C, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

4. Nguyễn Văn Ngọc L, sinh năm 1965 (Vắng mặt).

Cư trú: Tổ 05, khóm 1, Phường H, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

5. Trương Thoại N, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Cư trú: Số 45-48, đường K, Phường A, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 (vắng mặt). Nơi cư trú: Tổ 07, khóm A, phường T, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

2. Nguyễn Vũ L, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Cùng cư trú: Tổ 12, ấp 1, xã T, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ, ngày 29/6/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp chạy trên tuyến đường Lý Thường Kiệt thì phát hiện anh Đoàn Phước Đ đang ngủ trước cửa quán cà phê “Bốn Mùa” thuộc khóm 5, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Lúc này, T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản trên người của anh Đ để bán lấy tiền tiêu xài nên T đậu xe trước cửa quán và một mình đi đến nơi anh Đ đang nằm ngủ, quan sát thấy có 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh để dưới mông anh Đ, T lén lút lấy trộm điện thoại di động cất giấu vào túi quần, sau đó tiếp tục dùng tay phải đưa vào túi quần của anh Đ móc lấy trộm được 3.700.000 đồng rồi nhanh chóng lấy xe đạp điều khiển về nhà của chị ruột tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 tại tổ 12, ấp 1, xã T, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, T lấy số tiền vừa trộm ra đưa cho chị Nguyễn Thị H 1.500.000 đồng để mua thuốc cho mẹ ruột của T uống và lấy điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh vừa trộm của anh Đ tặng cho anh rể tên Nguyễn Vũ L, sinh năm 1993 để sử dụng. Qua làm việc anh L và chị Hậu không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có và tự nguyện giao nộp để xử lý. Sau khi phát hiện tài sản của mình bị mất trộm anh Đoàn Phước Đ đến Công an phường 1 trình báo vụ việc. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh mời Nguyễn Văn T để làm việc, T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên và giao nộp cho Cơ quan Công an tạm giữ gồm: 01 điện thoại vivo, màu xanh và 1.510.000 đồng đã trộm của anh Đ; 01 ví da màu nâu, có chữ POLO MESIDO (T đã trộm ngày 26/7/2022 của anh Trương Thoại N) và 01 xe đạp màu hồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 247/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng, có giá trị: 2.700.000 đồng.

Ngày 24/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đoàn Phước Đ 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh và số tiền là 3.010.000 đồng, anh Đ nhận lại tài sản xong và không yêu cầu T bồi thường gì thêm.

Đối với xe đạp màu hồng là của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 cho Nguyễn Văn T mượn sử dụng làm phương tiện đi lại. Việc bị can T lấy xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Hậu hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho chị Hậu, chị Hậu nhận lại tài sản xong và không có ý kiến gì thêm.

Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T còn khai nhận thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 01 giờ ngày 20/6/2022, Nguyễn Văn T vì muốn có tiền tiêu xài nên một mình điều khiển xe đạp chạy trên đường Lê Duẫn khi đến cầu Cái Sao Thượng thuộc tổ 50, khóm T, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp thì thấy có căn nhà đang sửa chữa nên T đã nảy sinh ý định vào tìm tài sản để trộm cắp. Sau đó, T vào trong để tìm kiếm tài sản thì thấy anh Lê Việt T, sinh năm 1982 đang nằm ngủ, gần trên đầu nằm của anh T có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, T lén lút chiếm đoạt điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi trộm được điện thoại T đem bán cho ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, ngụ tổ 7, khóm Thuận An, phường Hòa Thuận, thành phố Cao Lãnh với số tiền là 200.000 đồng. Qua làm việc, ông T khai nhận có mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen của T nhưng không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có và tự nguyện giao nộp để xử lý; đồng thời, ông T không yêu cầu Tửng trả lại số tiền 200.000 đồng mà ông T đã mua lại điện thoại của Tửng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.500.000 đồng. Ngày 24/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh T nhận lại tài sản xong và không yêu cầu gì thêm.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 01 giờ ngày 22/6/2022, Nguyễn Văn T một mình điều khiển xe đạp chạy trên các tuyến đường thuộc phường 1, thành phố Cao Lãnh để tìm tài sản do người khác sơ hở để trộm cắp. Sau đó, T chạy đến khu vực khách sạn Đ thuộc khóm 3, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thì thấy anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1993 (nhân viên bảo vệ) đang nằm ngủ và có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu xanh đang sạc trên bàn nhựa gần đó. T lén lút rút dây sạc, chiếm đoạt điện thoại rồi tẩu thoát. Sau khi trộm được điện thoại, T đến gặp chị ruột tên Nguyễn Thị H nói dối là do T mua và đưa cho chị Hậu sử dụng, khi biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có, chị Hậu đã tự nguyện giao nộp để xử lý.

Vụ thứ ba: Sau khi lấy trộm tài sản của anh Nguyễn Hữu D tại khách sạn Đ xong. Khoảng 02 giờ ngày 22/6/2022, T tiếp tục điều khiển xe đạp chạy đến quán “Q” tọa lạc khóm 4, phường A, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp thì thấy ông Nguyễn Văn Ngọc L, sinh năm 1965 (nhân viên bảo vệ) đang nằm ngủ trong quán, T quan sát phát hiện gần dưới chân của ông Long có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen nên T lén lút chiếm đoạt điện thoại rồi tẩu thoát. Sau khi trộm được điện thoại di động T đến gặp anh rễ tên là Nguyễn Vũ L nói dối là do T mua của người khác và đưa cho anh L sử dụng, khi biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có, anh L đã tự nguyện giao nộp để xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 244 và 245/KL-HĐĐGTS cùng ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, có giá trị là 1.700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu xanh, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.500.000 đồng. Ngày 24/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh D và ông L đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu gì thêm.

Vụ thứ tư: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp chạy đến khách sạn “BOB” tọa lạc khóm 5, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thì thấy anh Trương Thoại N, sinh năm 1998 (nhân viên bảo vệ) đang nằm ngủ, T quan sát thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng và 01 bóp da màu nâu để trên đầu nằm của anh N. T lén lút lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và cái bóp da màu nâu rồi tẩu thoát. Sau khi trộm được tài sản, T điều khiển xe đạp đi khoảng 500 mét, T dừng lại mở bóp ra phát hiện bên trong có số tiền 100.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Sau đó, T đem điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cho Nguyễn Văn T để sử dụng và số tiền 100.000 đồng T đã tiêu xài hết, còn cái bóp da màu nâu T để sử dụng. Qua làm việc, ông T khai nhận T có cho 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhưng không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có và tự nguyện giao nộp để xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 246/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng, đã qua sử dụng, có giá trị: 500.000 đồng và 01 ví da màu nâu, có chữ POLO MESIDO, đã qua sử dụng, có giá trị: 0 đồng. Tổng giá trị tài sản là 500.000 đồng.

Ngày 24/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng và 01 bóp da màu nâu có chữ POLO MESIDO cho anh Trương Thoại N đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên; phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về phạm tội; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai người bị hại; lời khai của người liên quan; lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS-TPCL, ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Vào các ngày 20, 22, 27 và 29/6/2022 Nguyễn Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen của anh Lê Việt T trị giá 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu xanh của anh Nguyễn Hữu D trị giá 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen của ông Nguyễn Văn Ngọc L trị giá 1.700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng và 01 bóp da màu nâu bên trong có tiền mặt là 100.000 đồng của anh Trương Thoại N với tổng giá trị tài sản là 600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh và tiền mặt là 3.700.000 đồng của anh Đoàn Phước Đ với tổng giá trị tài sản là 6.400.000 đồng. Như vậy, bị cáo T đã 05 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác (trong đó 02 lần chiếm đoạt tài sản trên 2.000.000 đồng), với tổng trị giá là 12.700.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; Nguyễn Văn T có 02 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; chỉ vì mục đích vụ lợi bị cáo lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản và đã lén lút trộm cắp tài sản 05 lần, vào các ngày 20, 22, 27 và 29/6/2022 trên địa bàn Phường 1 và phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp của 05 bị hại gồm: Lê Việt T trị giá tài sản 1.500.000 đồng; Nguyễn Hữu D trị giá tài sản 2.500.000 đồng; Nguyễn Văn Ngọc L trị giá tài sản 1.700.000 đồng; Trương Thoại N với tổng giá trị tài sản là 600.000 đồng; Đoàn Phước Đ với tổng giá trị tài sản là 6.400.000 đồng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...

g) Tái phạm nguy hiểm;….”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; Nguyễn Văn T có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” 05 lần, thể hiện bản tính xem thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì nên không xem xét.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh và số tiền là 3.010.000 đồng của anh Đoàn Phước Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của anh Lê Việt T, ngày 24/9/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu xanh của anh Nguyễn Hữu D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen của Nguyễn Văn Ngọc L, ngày 24/9/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng và 01 bóp da màu nâu có chữ POLO MESIDO của Trương Thoại N. Ngày 24/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản nêu trên cho chủ sở hữu xong là phù hợp.

Đối với 01 xe đạp màu hồng đã qua sử dụng bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội là của chị Nguyễn Thị H, do bị cáo T mượn sử dụng, chị Hậu không biết bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 25/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hậu xong là phù hợp.

Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị H có hành vi cất giữ số tiền 1.500.000 đồng và sử dụng điện thoại di động; Nguyễn Vũ L có hành vi sử dụng điện thoại di động và Nguyễn Văn Thành có hành vi mua điện thoại di động của T nhưng không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có và đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ