vanban.org

Bản án 79/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Đức C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Chính - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HS-ST
Ngày 26 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sái Đức Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải; Bà Hoàng Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần tại Cơ sở giam giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2022/TLST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/HSST-QĐ, ngày 15 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Đức C, sinh năm 1984.

Nơi thường trú: Thôn Nà K, xã Đ, huyện Na R, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy Đ và bà Mạc Thị T; Vợ: Luân Thúy H, sinh năm 2002 và có 01 con nhỏ sinh năm 2021; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2022 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt)

- Người chứng kiến:

Anh Dương Xuân Đ, sinh năm 1979

Nơi cư trú: Xóm T 2, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt không có lý do)

Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Trần Anh Hiếu - Kiểm sát viên Sơ cấp Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Vũ Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Đàm Văn Luận- Đội trưởng đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện P;

2. Ông Dương Đại Nghĩa- Cán bộ đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện P;

3. Ông Dương Văn Tới- Chiến sĩ nghĩa vụ Công an huyện P;

4. Ông Nguyễn Văn Phương- Chiến sĩ nghĩa vụ Công an huyện P;

5. Ông Nguyễn Ngọc Ánh - Chiến sĩ nghĩa vụ Công an huyện P.

Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu Trung tâm:

1. Ông Dương Văn Đại- Chiến sĩ nghĩa vụ Công an huyện P;

2. Ông Nguyễn Tiến Cường- Chiến sĩ nghĩa vụ Công an huyện P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/4/2022, Tổ công tác Công an huyện P phối hợp cùng Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại xóm T 2, xã Đ thì phát hiện 02 nam thanh niên có nhiều biểu hiện nghi vấn liên quan đến tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã đến kiểm tra thì 01 nam thanh niên bỏ chạy, tổ công tác kịp thời giữ lại được một người. Qua kiểm tra, người này khai tên Nguyễn Đức C, sinh năm 1984, trú tại: thôn Nà K, xã Đ, huyện Na R, tỉnh Bắc Kạn. Tổ công tác yêu cầu C có gì liên quan đến ma túy thì tự giác giao nộp. C đã tự giác lấy từ túi áo bên trái đang mặc ra 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và một phần viên nén màu đỏ. C khai đó là ma túy heronie và ma túy ngựa của C mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng ký hiệu A.

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 21/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành mở niêm phong bì thư ký hiệu A cân xác định:

- Toàn bộ số chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư niêm phong (Ký hiệu A) có khối lượng 0,068 gam, lấy toàn bộ 0,068 gam số chất bột dạng cục màu trắng trên niêm phong vào bì thư ký hiệu A1 gửi giám định

- Toàn bộ phần viên nén màu đỏ trong bì thư niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,104 gam lấy toàn bộ 0,104 gam viên nén màu đỏ niêm phong vào bì thư ký hiệu A2 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 642/KL- KTHS ngày 29/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư ký hiệu A1 gửi đi giám định là chất ma túy; loại Heroine có khối lượng 0,068 gam

- Mẫu viên nén màu đỏ trong bì thư ký hiệu A2 gửi đi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,104 gam.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức C khai nhận như sau: Do bản thân là người nghiện ma túy nên C thường xuyện phải mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/4/2022, Chính đi bộ một mình tại khu vực Khu Công nghiệp Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì gặp một người đàn ông không quen biết, người này rủ C đi mua ma túy về cùng sử dụng thì C đồng ý. Người đàn ông này đưa cho C 300.000 đồng, C cầm tiền đi đến khu vực đối diện cổng Khu Công nghiệp Đ để tìm mua ma túy. Tại đây, C gặp và mua được của một người đàn ông lạ mặt 02 gói ma túy gồm ma túy loại Heroine và ma túy ngựa với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất số ma túy trên vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi cùng người đàn ông đã đưa tiền đi tìm nơi để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Đ phối hợp cùng Công an huyện P phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên còn người đàn ông lạ mặt kia bỏ chạy.

Cáo trạng số 80/CT-VKSPB ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố Nguyễn Đức C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Đức C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong dán kín (Ký hiệu A1) bên trong có chứa 0,057 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 và 01 bì thư niêm phong dán kín (Ký hiệu A2) bên trong có chứa có bao gói mẫu A2.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo thuộc hộ nghèo năm 2022 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai đó có căn cứ và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 16 giờ ngày 21/4/2022, tại khu vực xóm T 2, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo Nguyễn Đức C là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ trên người 0,068 gam ma túy loại Heroine và 0,104 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng C chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Đ phối hợp với Công an huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 642/KL- KTHS ngày 29/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư ký hiệu A1 gửi đi giám định là chất ma túy; loại Heroine có khối lượng 0,068 gam

- Mẫu viên nén màu đỏ trong bì thư ký hiệu A2 gửi đi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,104 gam.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức C có đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về tính chất mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác... Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm minh và cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất mức độ tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 bì niêm phong dán kín (Ký hiệu A1) bên trong có chứa 0,057 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 và 01 bì thư niêm phong dán kín (Ký hiệu A2) bên trong có chứa có bao gói mẫu A2 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên trong lời luận tội về tội danh, về hình phạt, về án phí và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đức C với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo thuộc hộ nghèo năm 2022 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

- Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Điều 106; Điều 326; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Đức C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2022.

3. Ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đức C với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong dán kín (Ký hiệu A1) bên trong có chứa 0,057 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 và 01 bì thư niêm phong dán kín (Ký hiệu A2) bên trong có chứa có bao gói mẫu A2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức C được miễn 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Thông báo về quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo Nguyễn Đức C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ