vanban.org

Bản án 79/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 09/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn V. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2022/HS-ST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn V.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Võ Tấn V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tấn V - phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn V. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2022/HS-ST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HS-PT
Ngày 09-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mười.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Bé.

Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2022/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2022/HS-ST ngày 31/03/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Võ Tấn V, (tên gọi khác: V V), sinh ngày: 14/5/1990 tại tỉnh Q; nơi cư trú: Tổ 02 (tổ 03 cũ), phường NL, thành phố Q, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Tấn V và bà Lê Thị S; có vợ: Phạm Thị Thùy D, con: có 02 con, lớn sinh năm 2017 và nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/7/2015, bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Tấn V: Ông Lê Hoàng Hiếu – Luật sư công ty Luật TNHH HK & Gia Luật – Chi nhánh Quảng Ngãi, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; tại phiên tòa bị cáo từ chối người bào chữa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01 tháng 6 năm 2021, anh Trương Quang H (sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 01, xã ND, thành phố Q) cùng chị Mạc Thị Kiều L (Tên gọi khác: L, sinh năm 1996), chị Mạc Thị Hồng N (sinh năm 1989, cùng cư trú tại thôn PM, xã NM, huyện TN, tỉnh Q), anh Nguyễn H (sinh năm 1978, nơi cư trú: Tổ 03, phường CL, thành phố Q, tỉnh Q), anh Võ Duy T (Tên gọi khác: B; sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ 03, phường NL, thành phố Q), anh Đặng Văn C (sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn KT, xã NH, thành phố Q) và một người không rõ lai lịch nhậu tại quán nhậu Anh Em thuộc thôn 02, xã ND, thành phố Q. Sau đó, anh Hoàng gọi cho Võ Tấn V rủ V đến để nhậu cùng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, V cùng bạn là Huỳnh Thị Kiều M (sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ 01, phường NL, thành phố Q) đến. Trong lúc nhậu, V có cãi vã, xô xát với chị Ly, chị N là chị ruột của chị Ly cầm ly bia trên bàn ném về phía V nhưng không trúng. Được mọi người trong bàn can ngăn, V cùng chị M lấy xe ra về, khi ra trước quán chị Ly, chị N và V tiếp tục cãi vã, chị N có dùng ly nhựa ném V, V bực tức đến bàn nhậu trong quán cầm hai vỏ chai bia định đánh chị N và chị L thì mọi người can ngăn, V thả một vỏ chai bia xuống, tay phải còn cầm một vỏ chai bia và đập xuống nền. Lúc này chị N và chị L đi tới chỗ V, V dùng vỏ chai bia vừa đập vỡ đánh qua đánh lại về phía chị N và chị L. Chị N và chị L vẫn tiếp tục xông vào thì V dùng vỏ chai bia vừa đập vỡ đâm theo hướng từ trái sang phải vào người của chị N. Chị L thấy vậy sợ vỏ chai bia đâm trúng chị N nên dùng tay trái hất tay V ra theo hướng từ bên dưới lên thì vỏ chai bia đó xượt qua mu bàn tay trái của chị L nhưng vỏ chai bia vẫn đâm trúng vào vùng cổ bên trái của chị N gây thương tích. Chị N được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Q. V điều khiển xe chở chị M về nhà.

Ngày 02/6/2021, Võ Tấn V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 147/TgT ngày 04/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận thương tích của chị Mạc Thị Hồng N:

- Vết thương đứt tĩnh mạch cảnh ngoài đã phẫu thuật phục hồi tốt: 12%.

- Vết thương vùng dưới cằm: 1,76%.

- Vết thương vùng cổ trái: 1,72%

Tổng cộng: 15,48%. Làm tròn số = 15%.

- Các tổn thương trên phù hợp vật sắc nhọn gây thương tích.

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 15% (Mười lăm phần trăm).

Tại kết luận giám định số 762/KLGĐ/PC09 ngày 27/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- Chất màu nâu đỏ thấm dính trên hai cục bông y tế (thu ở dấu vết trên nền nhà trong quán nhậu Anh Em và trên nền trước quán tại hiện trường) được bảo quản trong 02 túi niêm phong, gửi giám định đều là máu người và đều thuộc nhóm máu A.

- Mẫu máu ghi thu của Mạc Thị Hồng N, sinh năm 1989, ở thôn PM, xã NM, huyện TN, tỉnh Q đựng trong ống nghiệm gửi giám định, thuộc nhóm máu A.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 31/03/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Tấn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Võ Tấn V 01 (Một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 12/4/2022, bị cáo Võ Tấn V có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Tấn V về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong phần dân sự cho bị hại, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh bị cáo đang nuôi 02 con còn nhỏ, gia đình bị cáo đang phải ở nhà thuê; bị cáo có ông nội thúc là liệt sỹ. Do bị cáo có Nều tình tiết giảm nhẹ phát sinh tại cấp phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Tấn V làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Võ Tấn V là ông Lê Hoàng Hiếu vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo từ chối người bào chữa, đề nghị tiếp tục xét xử.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Tấn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/6/2021, tại quán nhậu Anh Em thuộc thôn 2, xã ND, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; Võ Tấn V dùng vỏ chai bia đã đập vỡ quơ qua quơ lại làm trúng vào vùng cổ bên trái của chị Mạc Thị Hồng N, hậu quả chị Mạc Thị Hồng N bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Võ Tấn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy Nên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ phần dân sự cho bị hại, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; sau khi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra để đầu thú. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo mức án 12 (mười hai) tháng tù là tương xứng với hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ là Bằng Tổ quốc ghi công của Liệt sỹ Võ K, là ông nội thúc của bị cáo. Gia đình bị cáo được UBND phường NL, thành phố Q xác nhận có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo hiện là lao động duy nhất trong gia đình và đang nuôi 02 con nhỏ, vợ chồng bị cáo hiện đang phải ở nhà thuê. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có Nều tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú ổn định, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật; đồng thời để tạo cơ hội cho bị cáo có điều kiện lao động kiếm tiền nuôi dạy các con; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách L bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng cửa pháp luật.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4 Về án phí: bị cáo Võ Tấn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 351; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn V. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2022/HS-ST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn V.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Võ Tấn V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Võ Tấn V cho Ủy ban nhân dân phường NL, thành phố Q, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: bị cáo Võ Tấn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ