- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Thanh A đối với ông Lê Hoàng B; bà Ngô Thị Thanh A được ly hôn ông Lê Hoàng B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22/8/2022 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Huy Luận
2. Bà Lê Thị Phương Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
------------------------------------------------------------
Ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự về Hôn nhân và gia đình thụ lý số 416/2022/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022, về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 217/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Ngô Thị Thanh A, sinh năm 1985 Địa chỉ: khu phố 12, phường C, thành phố Phan Thiết, Bình Thuận.
Bị đơn: ông Lê Hoàng B, sinh năm 1983 Địa chỉ: khu phố 12, phường C, thành phố Phan Thiết, Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 30/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân, bà và ông Lê Hoàng B tự nguyện tìm hiểu, sống chung năm 2004, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận vào năm 2011, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 171/2011, ngày 26/8/2011. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 ông B nghiện hút, năm 2021 bà đưa ông B đi cai nghiện, khi về lại ông vẫn không thay đổi, vẫn nghiện ngập, đánh đập vợ con, bà không thể chịu đựng thêm mong Tòa án thành phố Phan Thiết giải quyết cho bà được ly hôn với ông B. Ông bà hiện nay đã mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải, không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc với nhau được nữa.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Lê Thị Thanh D, (giới tính: nữ), sinh ngày 16/02/2006, Lê Hoàng E, (giới tính: nam), sinh ngày: 06/5/2011, sau ly hôn nguyện vọng bà muốn tiếp tục được trực tiếp nuôi Lê Thị Thanh D, đồng ý giao con chung Lê Hoàng E (giới tính: nam), sinh ngày: 06/5/2011, cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà A tha thiết yêu cầu Tòa án giải quyết sớm để mẹ con bà ổn định cuộc sống, bà B quyết yêu cầu được ly hôn với ông B vì không còn tình cảm với nhau nữa.
Bị đơn ông Lê Hoàng B có nhận Giấy triệu tập của Tòa án, biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết việc bà A yêu cầu ly hôn với ông, ông có nghe điện thoại Tòa án báo gọi nhưng không đến Tòa; ghi vào Giấy triệu tập trả cho khu phố trưởng:“Tôi không đi”, không gởi văn bản trình bày ý kiến của mình.
Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71; Bị đơn không thực hiện đúng Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân, bà Ngô Thị Thanh A được ly hôn ông Lê Hoàng B, về con chung, giao con Lê Thị Thanh D, (giới tính: nữ), sinh ngày 16/02/2006 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Lê Hoàng E (giới tính: nam), sinh ngày: 06/5/2011, cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ chung bà A, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét, về án phí bà Ngô Thị Thanh A phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Ngô Thị Thanh A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Hoàng B có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết; về con chung ông bà có 02 con chung là Lê Thị Thanh D, Lê Hoàng E; các con đều chưa thành niên. Đây là vụ kiện “Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Phan Thiết quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các bước thụ lý, hòa giải, ra Quyết định xét xử… nguyên đơn tham gia và chấp hành đầy đủ theo qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông B nhưng ông B vẫn vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành lập biên bản đúng theo quy định của khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về pháp luật được áp dụng để giải quyết: bà Ngô Thị Thanh A và ông Lê Hoàng B tự nguyện tìm hiểu, sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, vào năm 2011, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 171/2011, ngày 26/8/2011 nên là hôn nhân hợp pháp. Vì vậy, căn cứ vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về quan hệ hôn nhân: Bà A cho rằng, cuộc sống hôn nhân không được như ý muốn, xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông B là người nghiện ma túy, dù có cố gắng thêm cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau, gia đình hiện nay thực sự đã tan vỡ, ông B dẫn các con về quê nội sinh sống… mâu thuẫn về kinh tế và tình cảm dẫn đến bế tắc trong cuộc sống nên bà yêu cầu HĐXX xem xét cho ông bà được ly hôn.
HĐXX xét thấy thực tế ông bà đã không sống cùng nhau đã vi phạm Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, ông bà sống ly thân từ đầu năm 2022 trở lại đây, điều đó thể hiện hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Tòa án cũng đã tiến hành xác minh việc ông bà không còn chung sống cùng nhau, thậm chí ông B còn đánh đập bà A nên HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A với ông B theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
. Về con chung: ông bà có hai con chung là Lê Thị Thanh D, (giới tính: nữ), sinh ngày 16/02/2006, Lê Hoàng E, (giới tính: nam), sinh ngày: 06/5/2011; Nguyện vọng bà A sau ly hôn muốn được trực tiếp nuôi bé lớn Lê Thị Thanh D và đồng ý giao bé nhỏ Lê Hoàng E cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Toà án đã thu thập 02 bản tự khai thể hiện ý chí nguyện vọng của các con nên HĐXX nhận thấy các yêu cầu này là phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
. Về tài sản và nợ chung: Do bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: bà A phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Thanh A đối với ông Lê Hoàng B; bà Ngô Thị Thanh A được ly hôn ông Lê Hoàng B.
Về con chung: ông bà có hai con chung là Lê Thị Thanh D, (giới tính: nữ), sinh ngày 16/02/2006, Lê Hoàng E, (giới tính: nam), sinh ngày: 06/5/2011
Giao con chung Lê Thị Thanh D cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
Giao con chung Lê Hoàng E cho ông B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
Bà Ngô Thị Thanh A không yêu cầu ông Lê Hoàng B cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xét.
Ông B bà A được quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục các con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc các nhân, tổ chức theo quy định pháp luật tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ngô Thị Thanh A, ông Lê Hoàng B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về án phí: bà Ngô Thị Thanh A phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình. Ngày 08/6/2022 bà A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009790 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết nay chuyển sang án phí, án phí bà A đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/8/2022), bị đơn ông Lê Hoàng B vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP.Phan Thiết; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Chi cục THADS TP.Phan Thiết; - UBND các đương sự ĐKKH; ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Ngọc |