- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD giua anh T va chi C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10-6-2022 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Xuân Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Đình Đạt
Ông Nguyễn Văn Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2022/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐ-ST ngày 11/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44a/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nông Văn T, sinh ngày 18/02/1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh ngày 28/12/1987 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.
Địa chỉ cư trú cuối cùng của chị C ở Việt Nam: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Nông Văn T trình bày:
Trước khi kết hôn anh và chị C được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Đăng ký kết hôn ngày 27/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang nơi anh, chị đăng ký hộ khẩu thường trú. Sau khi kết hôn chị C về nhà anh làm dâu ngay và chung sống hòa thuận. Tháng 6/2019 chị C đi lao động tại nước ngoài. Sau một thời gian chị C đi lao động thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian anh, chị mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con, nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo anh, chị về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị C.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nông Thị B, sinh ngày 09/3/2008 và cháu Nông Văn S, sinh ngày 25/11/2016. Hiện nay cháu đều đang sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh không đề nghị chị Hoàng Thị C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Hoàng Thị C là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 16/3/2022 Công an xã P cho biết: Chị C không có mặt tại địa phương. Bố mẹ chị C đều đã chết. Chị C có em trai là Hoàng Văn K, sinh năm 1992 có hộ khẩu thường trú tại địa phương. Tại biên bản làm việc ngày 08/4/2022 và 15/5/2022, anh Hoàng Văn K là em trai chị C cho biết chị C hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Ma Cao – Trung Quốc. Anh có thông báo cho chị C biết việc anh T xin ly hôn chị C thì chị C cho biết chị đồng ý ly hôn anh T, nhưng không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở cho Tòa án. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Cháu Nông Thị B có đơn trình bày: Cháu hiện đang ở cùng bố, được bố chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ vì vậy nếu bố mẹ ly hôn các cháu xin được ở cùng với bố.
Tại phiên tòa, Anh Nông Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Hoàng Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Nông Văn T; Biên bản làm việc với em trai của chị Hoàng Thị C và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn anh T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị C không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị C. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị C là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nông Văn T.
Xử cho anh Nông Văn T được ly hôn Chị Hoàng Thị C.
Về con chung: Do chị C hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh Nông Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản, công nợ: Do anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Nông Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Nông Văn T khởi kiện xin ly hôn Chị Hoàng Thị C. Theo Công văn trả lời số 6657/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 31/3/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, chị C xuất cảnh gần đây nhất là ngày 26/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Do đó, chị C được xác định là đang ở nước ngoài. Ngoài ra, lời khai của nguyên đơn anh T, anh Hoàng Văn K là em trai chị C xác định nơi cư trú cuối cùng của chị C ở Việt Nam trước khi xuất cảnh lần gần nhất là: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang. Chị C, anh T đều có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt đương sự: Anh Nông Văn T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nông Văn T.
Đối với bị đơn chị Hoàng Thị C vắng mặt tại phiên tòa: Do bố mẹ chị C đều đã chết, có em trai chị C là anh Hoàng Văn K sinh sống tại địa phương. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với em trai của chị C là anh Hoàng Văn K để giao thông báo thụ lý vụ án và đề nghị anh Thắng thông báo cho chị C biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Nông Văn T và chị Hoàng Thị C. Anh Thắng cho biết chị C vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị C không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị C tại Ma Cao - Trung Quốc. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Văn T và chị Hoàng Thị C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 27/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị C.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nông Văn T với chị Hoàng Thị C. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh T và chị C chung sống với nhau hòa thuận, sau đó chị C đi xuất khẩu lao động tại Ma Cao - Trung Quốc. Sau một thời gian đi lao động thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đến nay do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị C được ly hôn. Do đó, xác định vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, xử cho anh T được ly hôn chị C là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về nuôi con chung: Anh T và chị C có 02 con chung là Nông Thị B, sinh ngày 09/3/2008 và cháu Nông Văn S, sinh ngày 25/11/2016. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh T và do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn anh T có nguyện vọng nuôi con chung.
Xét yêu cầu nuôi con chung của anh T: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị C đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị C từ khi đi nước ngoài thì con chung vẫn do anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, các cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Ngoài ra, cháu Bích trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở cùng bố. Do vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Giao anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung và nguyện vọng của con chung. Sau khi ly hôn chị C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị C thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp chị C về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
. Về tài sản, công nợ: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Anh Nông Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị C.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nông Thị B, sinh ngày 09/3/2008 và cháu Nông Văn S, sinh ngày 25/11/2016 cho anh Nông Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị C thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Anh Nông Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000338 ngày 15/3/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nông Văn T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nông Văn T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Chị Hoàng Thị C hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Chiến Lý Đình Đạt | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Xuân Lộc THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Xuân Lộc |