vanban.org

Bản án 79/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Trung H.

Về con chung: Giao con chung Lê Việt D, sinh ngày 03/5/2016 cho chị Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thơ Hạnh ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Trung H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƢƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HNGĐ-ST
Ngày 07-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thi

Bà Hoài Thị Hà Khuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T; địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Trung H; ĐKHKTT: Thôn V, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, hiện tại đamg chấp hành án tại phân trại 2, Trại giam Xuân Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh T. trình bày:

Chị kết hôn với anh Lê Trung H trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện An Dương, Hải Phòng vào ngày 22/4/2014. Sau ngày cưới hai bên chung sống tại thôn V, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, vui vẻ hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng xảy ra tranh cãi và bất hòa với nhau, anh H không quan tâm đến gia đình, chị đã tìm nhiều cách khắc phục nhưng không được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng và căng thẳng hơn. Đến đầu năm 2021, anh H vi phạm pháp luật Tòa án nhân dân huyện An Dương thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện tại anh H đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên, thành phố Hải Phòng. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, hai bên không thể khắc phục mâu thuẫn đoàn tụ, sống ly thân, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Trung H.

Về con chung: Chị và anh Lê Trung H có 01 con chung là Lê Việt D, sinh ngày 03/5/2016. Đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng sau ly hôn. Cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại chị làm tự do có thu nhập và thời gian để nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/8/2022 anh Lê Trung H trình bày:

Anh và chị Trần Thị Thanh T kết hôn tự nguyện có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại xã A, huyện An Dương. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận không có mâu thuẫn gì. Đến năm 2021, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt anh 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hiện anh đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên, Hải Phòng. Việc chị T xin ly hôn anh có quan điểm đồng ý ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục đoàn tụ. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị T ly hôn.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung Lê Việt D, sinh ngày 03/5/2016. Anh đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Trung H. Về con chung: Giao con chung Lê Việt D, sinh ngày 03/5/2016 cho chị Trần Thị Thanh T nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Trần Thị Thanh T khởi kiện xin ly hôn anh Lê Trung H có ĐKHKTT: Thôn V, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét việc vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh H.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung Hạnh về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, chị T, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã nghiêm trọng không thể khắc phục đoàn tụ và đều có nguyện vọng đề nghị Tòa án giải quyết cho hai bên được ly hôn.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H ly hôn.

Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H có một con chung là Lê Việt D, sinh ngày 03/5/2016. Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị T anh H có quan điểm thống nhất đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T nuôi dưỡng sau ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, điều kiện nuôi dưỡng con chung, quan điểm của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung Lê Việt D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết, sau này các bên có tranh chấp về cấp dưỡng con chung sau ly hôn, Tòa án xem xét giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Trung H.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Việt D, sinh ngày 03/5/2016 cho chị Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H không yêu cầu, Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H không yêu cầu, Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị T đã nộp (Biên lai thu tiền số 0004226 ngày 11 tháng 7 năm 2022) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị Thanh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Trung H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện An Dương;

- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;

- UBND xã An Đồng (ĐKKH số 12/2016);

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hƣơng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lợi

Đỗ Văn Thƣ

Nguyễn Thị Thu Hƣơng

Cỡ chữ