vanban.org

Bản án 79/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Anh Đ. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn với anh Lại Ngọc S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:79/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05-8-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1993

Địa chỉ: Số nhà 139, Tổ 2, ấp T, xã S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Lại Ngọc S, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

(Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lại Ngọc S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/4/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Chị và anh S chung sống đến cuối năm 2019 xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống và không còn hòa hợp. Anh S có quan hệ với người phụ nữ khác, đánh bài, không tôn trọng chị. Chị nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Lại Ngọc S.

- Về nuôi con: Có 02 (Hai) con chung là Lại Nguyễn T, sinh ngày 17/3/2014 và Lại Nguyễn Hương Q, sinh ngày 04/01/2020. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu Q và chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con. Hiện nay chị đang làm công nhân, thu nhập khoảng 9.000.000đ/01 tháng. Còn anh S không có nghề nghiệp ổn định, lương và thu nhập không ổn định.

- Về tài sản: Chị và anh S không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lại Ngọc S trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh và chị Đ bất đồng quan điểm về cách nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh thừa nhận có quen với người phụ nữ khác và vợ chồng không còn sống chung từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị Đ yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý.

- Về nuôi con: Anh và chị Đ có 02 (hai) con chung là Lại Nguyễn T, sinh ngày 17/3/2014 và Lại Nguyễn Hương Q, sinh ngày 04/01/2020. Anh đồng ý để chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, hiện anh chưa có công việc ổn dịnh nên chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì anh cũng đồng ýchi Đ

- Về tài sản: Anh và chị Đ không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã T hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị T hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Đ. Về hôn nhân: Cho chị Đ được ly hôn với anh S. Về con chung: Giao cho chị Đ trực tiếp nuôi các con chung, chị Đ không yêu cầu anh S cấp dưỡng nên không xem xét việc cấp dưỡng con chung đối với S. Về tài sản: Anh chị trình bày tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Bị đơn anh Lại Ngọc S có nơi cư trú tại xã B, huyện Tân Phú, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chị Nguyễn Thị Anh Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh S, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự chị Đ là nguyên đơn và anh S là bị đơn, được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Nguyên đơn có mặt tại phiên hòa giải, bị đơn triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không T hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án T hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đ và anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tân Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 24/4/2013. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Chị Đ trình bày trong quá trình chung sống thì anh chị có xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cự cãi, nghi ngờ lẫn nhau. Từ năm 2020 đến nay, anh chị đã không còn chung sống với nhau, hai bên đã nói chuyện để tự hòa giải nhưng không thành. Anh S trình bày thừa nhận anh chị có mâu thuẫn về tình cảm dẫn đến cãi nhau và anh đồng ý ly hôn với chị Đ. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác cũng thể hiện phù hợp với lời khai của các đương sự.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, chị Đ và anh S đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

- Về nuôi con: Chị Đ và anh S đã thỏa thuận giao cho chị Đ trực tiếp nuôi cháu Lại Nguyễn T, sinh ngày 17/3/2014 và Lại Nguyễn Hương Q, sinh ngày 04/01/2020, chị Đ không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con nên không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh S. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về nuôi con chung tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Từ sau khi anh chị không còn chung sống từ năm 2020, con chung đang do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân chị có trách nhiệm chăm sóc và nghề nghiệp ổn định đủ khả năng nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận về nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của các đương sự có cơ sở để ghi nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ và anh S trình bày anh chị không có về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Anh Đ.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn với anh Lại Ngọc S.

- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Anh Đ trực tiếp nuôi con chung là Lại Nguyễn T, sinh ngày 17/3/2014 và Lại Nguyễn Hương Q, sinh ngày 04/01/2020.

Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Đ không yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do các đương sự không yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002333 ngày 25/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ