- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim X- Lê Chí T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Nguyễn Kim X; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HNGĐ-ST Ngày: 13/9/2022. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Bà Lương Thị Cẩm Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 204/2022/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2022, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim X – sinh năm 2000, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện Ch, tỉnh T.
2. Bị đơn: Ông Lê Chí T - sinh năm 1995, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp Ph, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2022, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Kim X như sau: Bà kết hôn với ông Lê Chí T vào năm 2020, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bà có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V A, huyện G, tỉnh K vào ngày 09/02/2022.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vả. Lúc bà mang thai, chồng bà không quan tâm và vợ chồng bà ly thân từ tháng 3/2022 cho đến nay. Sau thời gian mâu thuẫn và sống ly thân, bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được, bà không còn tình cảm yêu thương ông Lê Chí T nên bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Chí T.
Thời gian chung sống với nhau vợ chồng bà có 01 người con chung tên Lê Hữu Tr - sinh ngày 05/8/2021, hiện bà đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung.
Nguyện vọng:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Lê Chí T.
Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Hữu Tr - sinh ngày 05/8/2021 và không yêu cầu ông Lê Chí T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Chí T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Lê Chí T không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Lê Chí T.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Nguyễn Kim X được ly hôn với ông Lê Chí T. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Hữu Tr - sinh ngày 05/8/2021 cho bà Nguyễn Kim X tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Kim X có đơn xin xét xử vắng mặt xét thấy việc vắng mặt của bà Xuân không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Nguyễn Kim X.
Ông Lê Chí T là bị đơn trong vụ án, ông Lê Chí T có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Lê Chí T vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên, ngày 01 tháng 8 năm 2022, Tòa án làm việc với ông Đào Văn Ch, giữ chức vụ Trưởng ấp Ph, xã V, huyện Gò Quao và bà Đặng Thị L (mẹ ruột của ông Lê Chí T) để xác minh về tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Lê Chí T và bà Nguyễn Kim X thì được ông Ch và bà L cho biết ông Lê Chí T hiện vẫn còn hộ khẩu ở ấp Ph, xã V, huyện Gò Quao nhưng ông Lê Chí T đã bỏ địa phương đi làm ở Bình Dương từ tháng 5/2022. Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung của ông Lê Chí T và bà Nguyễn Kim X thì ông Ch và bà L không nắm được. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai và tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Lê Chí T theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Lê Chí T vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Lê Chí T.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T kết hôn với nhau vào năm 2020, hôn nhân tự nguyện, không có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh K. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07, ngày 09/02/2022, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn vợ chồng bà chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên khi sống chung đã bộc lộ những cá tính không phù hợp dẫn đến mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Nguyễn Kim X cho rằng vợ chồng tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vả. Lúc bà mang thai, chồng bà không quan tâm và vợ chồng bà ly thân từ tháng 3/2022 cho đến nay. Từ khi ly thân bà và ông Lê Chí T không còn liên lạc với nhau. Ngày 18/7/2022 và ngày 18/8/2022, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Lê Chí T không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay yêu cầu gì của ông Lê Chí T. Xét thấy, vợ chồng bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T đã sống ly thân với nhau tính đến ngày xét xử là 06 tháng. Trong thời gian này, ông Lê Chí T không liên lạc với bà Nguyễn Kim X, điều đó chứng minh ông Lê Chí T không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này, cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Nguyễn Kim X cương quyết xin ly hôn với ông Lê Chí T và khẳng định không còn tình cảm yêu thương ông Lê Chí T, vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Kim X.
Về con chung: Bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T có 01 người con chung tên Lê Hữu Tr - sinh ngày 05/8/2021, bà Nguyễn Kim X đang nuôi dưỡng. Hiện ông Lê Chí T không có ý kiến gì về quyền nuôi con, còn bà Nguyễn Kim X yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Tr và cháu Tr chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của mẹ. Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Kim X.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Kim X không yêu cầu vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Kim X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Kim X phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0008861, ngày 13/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim X.
Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Kim X và ông Lê Chí T được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao cháu Lê Hữu Tr - sinh ngày 05/8/2021 cho bà Nguyễn Kim X tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông Lê Chí T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép ngăn cản ông thực hiện quyền này.
Các đương sự được quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Kim X phải chịu nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0008861, ngày 13/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS Gò Quao; - Chi cục THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |