vanban.org

Bản án 79/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
  • Tòa quyết gì? 39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 79/2022/DS-ST
Ngày: 23/8/2022
“V/v Tranh chấp Hợp đồng góp
hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Nhàn;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới,

tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 163/2022/TLST-

DS ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 382/2022/QĐXXST-DS ngày

12 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 358/2022/QĐST-DS ngày

03 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1959; địa chỉ: số 209, tổ 10,

ấp TQ, xã TM, hyện CM, tỉnh An Giang; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, hyện

CM, tỉnh An Giang; vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm

1966; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, hyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt (do có ý kiến

đề nghị vắng mặt tại văn bản ghi nhận lời khai ngày 02/6/2022).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn ông Phạm Văn P trình bày, ông có tham gia chơi hụi do bà

Nguyễn Thị Đ làm chủ hụi. Ông tham gia làm hụi viên của 04 dây hụi. Cụ thể:

Dây hụi thứ I: hụi 2.000.000 đồng, khui hụi ngày 28/01/2019 (âm lịch); dây hụi có 28 hụi viên, ông tham gia 01 chân (01 phần); ông đã chầu hụi được 27 lần (27 tháng) hụi sống tương đương 41.310.000 đồng. Theo thỏa thuận thì ông sẽ hốt hụi chót ngày 28/3/2021 (âm lịch), trong vòng 07 ngày kể từ ngày khui hụi thì bà Đ phải giao tiền hụi. Tuy nhiên, đến ngày 02/4/2021 (âm lịch) bà Đ công bố vỡ hụi nên ông chưa nhận được tiền hụi. Tổng số tiền ông chưa thực hiện hốt hụi là 53.000.000 đồng. Dây hụi đã mãn nhưng ông không được hốt hụi. Dây hụi thứ II: hụi 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 10/11/2019 (âm lịch), dây hụi có 25 hụi viên, ông tham gia 01 chân (phần) hụi; ông được 18 lần (18 tháng) hụi sống với tống số tiền 13.250.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 02/4/2021 (âm lịch) bà Đ kêu vỡ hụi, nên ông chưa được hốt hụi. Ông yêu cầu bà Đ trả cho ông số tiền 17.500.000 đồng (tiền hụi chết). Dây hụi thứ III: hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 20/4/2020 (âm lịch; tháng 4 sau của năm nhuần 2 tháng 4), dây hụi gồm 28 hụi viên, ông tham gia 01 chân (phần) hụi và ông đã chầu được 12 lần (12 tháng) tương đương số tiền ông nộp là 8.570.000 đồng. Dây hụi chưa mãn, đến ngày 02/4/2020 (âm lịch) thì bà Đ kêu vỡ hụi nên ông chưa hốt hụi. Ông yêu cầu bà Đ trả lại ông số tiền 11.500.000 đồng (tiền hụi chết). Dây hụi thứ IV: hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 06/11/2020 (âm lịch), có 26 hụi viên, ông tham gian 02 chân (phần) hụi và chầu được 5 tháng x 2 chân = 10 lần tương đương số tiền 7.560.000 đồng. Dây hụi này chưa mãn, đến ngày 02/4/2020 (âm lịch) bà Đ kêu vỡ hụi nên ông chưa được hốt hụi. Ông yêu cầu bà Đ trả cho ông 9.500.000 đồng (số tiền hụi chết đối với 10 lần chầu trừ đi 500.000 đồng tiền hòa hồng cho bà Đ).

Quá trình giải quyết vụ án, ông P xác định, số tiền ông yêu cầu bà Nguyễn

Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả cho ông số tiền hụi ông đã chầu của cả 04 dây hụi là 85.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, ông P thống nhất số liệu về số lần chầu hụi, số tiền gốc đã chầu hụi, số lãi của từng lần chầu hụi và số tiền gốc ông đã chầu hụi tại các dây hụi ông tham gia như bà Đ trình bày là chính xác; ông thống nhất số tiền hụi mà bà Đ còn nợ ông là 82.510.000đồng.

Như vậy, tại đơn khởi kiện ông yêu cầu bà Đ, ông T liên đới thanh toán số

tiền là 85.500.000đồng là chưa chính xác, nên ông rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, nay chỉ yêu cầu bà Đ, ông T cùng liên đới trả cho ông số tiền là 82.510.000đồng; quá trình sau khi vỡ hụi bà Đ thanh toán số tiền là 6.000.000đồng, nên chỉ còn nợ lại ông số tiền là 76.500.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đối với lời trình bày của ông T về việc không đồng ý liên đới cùng bà Đ

trả nợ ông không đồng ý, do quá trình chơi hụi ông T biết bà Đ là chủ hụi, cũng như có việc thu hụi từ các hụi viên, ông là hụi viên của bà Đ hơn 10 năm nay, ông T biết, cũng như việc bà Đ làm hụi là để phục vụ kinh tế gia đình, nên việc ông T không đồng ý liên đới trả nợ là không có căn cứ.

Đối với yêu cầu thanh toán dần hàng tháng là 500.000đồng/tháng ông

không đồng ý.

Bị đơn Nguyễn Thị Đ tại biên bản ghi nhận lời khai, biên bản hòa giải,

trình bày, bà có làm chủ hụi, trong đó ông Nguyễn Văn P (6 P) là hụi viên tại

các dây hụi, cụ thể: Dây hụi thứ I: hụi 1.000.000 đồng, khui hụi ngày

06/11/2020 (âm lịch); dây hụi có 26 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (02phần);

ông P đã chầu hụi được 05 lần (05 tháng) hụi sống tương đương 7.780.000 đồng.

Ông P (6 P) mới chầu được 05 lần, của 02 chân thuộc dây hụi này, với tổng số

tiền của 02 chân hụi là 7.780.000đồng; đến ngày 28/03/2021 âm lịch ông tuyên

bố vỡ hụi, nên ông P không thực hiện đóng hụi nữa. Dây hụi thứ II: hụi

1.000.000 đồng, khui hụi ngày 10/11/2019 (âm lịch), dây hụi có 25 hụi viên, ông

P tham gia 01 chân (phần) hụi; ông được 18 lần (18 tháng) hụi sống với tống số

tiền 13.210.000 đồng, ông P lời số tiền là 4.790.000đồng. Dây hụi thứ III: hụi

1.000.000 đồng, khởi khui ngày 20/4/2020 (âm lịch; tháng 4 sau của năm nhuần

2 tháng 4), dây hụi gồm 28 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (phần) hụi và ông

đã chầu được 12 lần (12 tháng) tương đương số tiền ông nộp là 8.520.000 đồng,

lời 3.480.000đồng. Dây hụi thứ IV: hụi 2.000.000 đồng, khởi khui ngày

28/01/2019 (, dây hụi gồm 28 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (phần) hụi và

ông P chầu được 27 lần (27 tháng) tương đương số tiền ông nộp là 54.000.000

đồng, trừ hoa hồng 1.000.000đồng, còn 53.000.000đồng, ông P (6 P) hốt hụi

chót, nhưng chưa hốt, xác định còn nợ là 53.000.000đồng.

Tổng số tiền của cả 04 dây hụi, ông P (6 P) đã tham gia hụi, tính đến ngày

vỡ hụi ngày 28/3/2021 âm lịch với số tiền là 82.510.000đồng.

Quá trình vỡ hụi, bà đã trả cho ông P (6 P) với số tiền là 6.000.000đồng,

nên số tiền bà còn nợ ông P tính đến nay chỉ còn là 76.510.000đồng; ông P yêu

cầu bà và chồng bà liên đới trả số tiền 85.500.000đồng bà không đồng ý, bà và

chồng bà chỉ đồng ý trả tiền nợ gốc, vì tiền lãi hụi ông P đã nhận khi tham gia

chầu hụi, số phần hụi chưa hốt.

Đối với các dây hụi, chồng bà là ông Nguyễn Văn T có biết, có những lúc

thu giúp hụi cho bà, tiền hụi cũng sử dụng chung vào sinh hoạt gia đình, cũng

như phát triển kinh tế gia đình. Bà Đ yêu cầu thanh toán hàng tháng với số tiền

là 500.000đồng/tháng cho ông P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong

quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến tại các phiên hòa

giải. Tuy nhiên, tại biên bản ghi nhận lời khai, do cán bộ Tòa án thực hiện ghi

nhận ý kiến của ông T; ông T đã trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng

có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật từ năm 1983 đến nay, ông có nhận

và biết được Tòa án mời làm việc do các nguyên đơn với tư cách là hụi viên

khởi kiện vợ ông bà Đ là chủ hụi, do sau khi thực hiện khui hụi không thực hiện

trả tiền hụi cho các hụi viên; ông có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không biết việc

ai là hụi viên, cũng như bà Đ khi thu tiền hụi, trả tiền hụi cho ai ông hoàn toàn

không nắm được, cũng như không thực hiện thu hụi của các hụi viên thay bà Đ.

Bà Đ khi thu tiền hụi, có tiền lời bao nhiêu ông không biết, bà Đ là vợ ông, là

chủ hụi từ khoảng hơn 10 năm nay, việc bà Đ bể hụi ông biết, do bà Đ có báo

cho ông, ông không đồng ý liên đới với bà Đ do ông không biết các hụi viên,

không thu hụi, không biết bà Đ dùng tiền hụi vào mục đích gì; ngoài ra bà Đ còn bị rất nhiều người giựt hụi, ông phải T phụ bà Đ trả thay, ông biết việc đưa ông tham gia tố tụng, nhưng đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất, lấy lời khai và tại phiên tòa.

Tại phiên tòa:

- Ông Phạm Văn P trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai

đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình, ông xác định về yêu cầu khởi kiện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 8.990.000đồng, xác định số tiền còn yêu cầu bà Đ, ông T liên đới thanh toán là 76.510.000đồng.

- Bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời trình bày phù hợp

với lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.

- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nên không ghi nhận được ý

kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn

ông Phạm Văn P, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Năm 2019, 2020 ông Phạm Văn P có tham 04

gia hụi do bà Nguyễn Thị Đ (vợ ông Nguyễn Văn T) làm chủ hụi, cụ thể: 01 dây hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 28/01âl/2019al, 03 dây hụi 1.000.000đồng/tháng, mở ngày 10/11âl/2019, ngày 20/4âl/2020, ngày 06/11âl/2020, đã đóng được với tổng số tiền 91.500.000đồng, bà Đ đã trả 6.000.000đồng nên còn nợ 85.500.000đồng. Tuy nhiên, trong quá giải quyết vụ án, ông P và bà Đ xác định số tiền nợ hụi 82.510.000đồng, bà Đ đã trả 6.000.000đồng. Nay, ông P yêu cầu bà Đ và ông T liên đới trả số tiền 76.510.000đồng, không tính lãi suất. Rút lại yêu cầu đối với số tiền 8.490.000đồng nên cần đình chỉ theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Phía bà Đ thừa nhận còn nợ bà Hậu số tiền 76.510.000đồng và xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi trả xong và việc bà làm chủ hụi ông T biết, có khi thu tiền hụi giúp bà, tiền bà chơi hụi có sử dụng vào việc sinh hoạt gia đình. Riêng, ông T xác nhận giữa ông và bà Đ là vợ chồng, có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không rõ ai là hụi viên và không rõ việc thu hụi như thế nào. Việc bà Đ vỡ hụi, ông T có biết, không đồng ý liên đới trả vì đây là nợ riêng bà Đ.

Xét thấy, căn cứ ông P khởi kiện là các giấy hụi ngày 28/01âl/2019;

10/11âl/2019; 20/4âl/2020; 06/11âl/2020. Ngoài ra, bà Đ cũng thừa nhận còn nợ

ông P 76.510.000đồng nên ông P khởi kiện yêu cầu bà Đ trả 76.510.000đồng là

có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ Luật dân sự và Điều 18, 23

Nghị định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu,

phường. Đối với việc bà Đ xin trả dần hàng tháng, do ông P không đồng ý nên

không có cơ sở xem xét, chấp nhận. Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T

liên đới trả cho ông P số tiền 76.510.000đồng. Thấy rằng, trong thời gian bà Đ

làm chủ hụi, bà Đ và ông T thừa nhận là vợ chồng, chung sống cùng nhau. Mặc

khác, bà Đ thừa nhận, việc bà chơi hụi nhằm mục đích tạo thu nhập để phục vụ

cuộc sống, sinh hoạt cho gia đình, ông T biết việc bà làm chủ hụi và đôi khi ông

T có thay bà Đ nhận tiền hụi của hụi viên đến đóng hụi. Vì vậy, có căn cứ xác

định rằng, đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 27, 37 Luật

hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông P, về việc

buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng bà Đ trả 76.510.000đồng. Do đó, đề nghị,

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn P đối với bà Nguyễn Thị Đ và

ông Nguyễn Văn T. Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T trả cho ông

Phạm Văn P số tiền 76.510.000đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm

Văn P đối với số tiền 8.990.000đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37

Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét, quyết

định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ông Phạm Văn P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ thanh toán tiền hụi,

bà Đ là người bị kiện đang cư trú tại địa bàn huyện Chợ Mới, giữa các bên công

nhận có chơi hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải

quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều

26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ

luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới.

Về nội dung:

Ông Phạm Văn P, tham gia các dây hụi, do bà làm chủ hụi, tại đơn

khởi kiện, cũng như tại biên bản hòa giải, biên bản ghi nhận lời khai, ông P khai

về các dây hụi có khác về số liệu về tiền gốc góp hụi, tiền lời khi góp hụi, nhưng

sau khi đối chiếu dây hụi tại sổ hụi gốc, cũng như lời khai của bà Đ, cả ông P và

bà Đ đều thống nhất về các dây hụi theo trình bày của bà Đ là đúng, ông P có

tham gia 04 dây hụi cụ thể: hụi 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 06/11/2020 (âm

lịch); dây hụi có 26 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (02phần); ông P đã chầu

hụi được 05 lần (05 tháng) hụi sống; ông P (6 P) mới chầu được 05 lần, của 02

chân thuộc dây hụi này, với tổng số tiền của 02 chân hụi là 7.780.000đồng; hụi

1.000.000 đồng, khui hụi ngày 10/11/2019 (âm lịch), dây hụi có 25 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (phần) hụi; ông được 18 lần (18 tháng) hụi sống với tống số tiền 13.210.000 đồng, ông P lời số tiền là 4.790.000đồng; hụi 1.000.000 đồng, khởi khui ngày 20/4/2020 (âm lịch; tháng 4 sau của năm nhuần 2 tháng 4), dây hụi gồm 28 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (phần) hụi và ông đã chầu được 12 lần (12 tháng) tương đương số tiền ông nộp là 8.520.000 đồng, lời 3.480.000đồng; hụi thứ IV: hụi 2.000.000 đồng, khởi khui ngày 28/01/2019 (, dây hụi gồm 28 hụi viên, ông P tham gia 01 chân (phần) hụi và ông P chầu được 27 lần (27 tháng) tương đương số tiền ông nộp là 54.000.000 đồng, trừ hoa hồng 1.000.000đồng, còn 53.000.000đồng, ông P (6 P) hốt hụi chót, nhưng chưa hốt, xác định còn nợ là 53.000.000đồng. Tổng số tiền của cả 04 dây hụi là 82.510.000đồng. Vì vậy, về số lần chơi hụi, ngày chơi hụi, số tiền đã chầu hụi, tiền lời hụi cả nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất, nên sự thống nhất này của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, giữa ông P và bà Đ có quan hệ chơi hụi, theo đó bà Đ là chủ hụi,

các đương sự đã đối chiếu thống nhất số tiền hụi, các dây hụi như trên là đúng cả ông P, bà Đ xác định số tiền hụi còn thiếu là 76.510.000đồng, nên Hội đồng xét xử thống nhất, việc ông P yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, lời trình bày của ông P phù hợp với lời trình bày của bà Đ, cũng như số tiền, số lần khởi khui hụi các đương sự đều thống nhất; theo đơn yêu cầu khởi kiện của ông P, yêu cầu bà Đ và ông T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi, thì thấy: việc ông T cho rằng, ông không có trách nhiệm liên đới với bà Đ, vì không biết bà Đ dùng tiền vào việc gì, nhưng ông lại biết việc bà Đ là chủ hụi hơn 10 năm nay, ông T cũng biết việc bà Đ vỡ hụi, cũng phụ bà Đ trong việc trả tiền hụi đối với người chơi hụi (Biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2022 đối với ông T), bà Đ cũng khẳng định việc làm chủ hụi, tiền lời hụi bà dùng chung vào mục đích sinh hoạt gia đình. Do đó, có cơ sở xác định ông T hoàn toàn biết việc bà Đ là chủ hụi, biết việc bà Đ là người T nhận tiền từ các hụi viên, nên ông cho rằng không có trách nhiệm liên đới là không có căn cứ, cả ông T và bà Đ đều thừa nhận là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, bà Đ và ông T cùng sống chung nhà, bà Đ có dùng tiền chơi hụi vào mục đích chung trong sinh hoạt gia đình theo như lời trình bày của bà Đ, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P về việc buộc bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện nghĩa vụ của hụi viên, người tham gia hụi theo quy định tại Nghị định số 19/20219/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ. Do đó, bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông P số tiền hụi đến nay chưa thanh toán là: 82.510.000đồng, do bà Đ đã thanh toán được một phần nợ với số tiền 6.000.000đồng, nên số tiền bà Đ, ông T còn phải liên đới thanh toán là 76.510.000đồng.

Tại đơn khởi kiện, ông P yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Đ, ông

T phải thanh toán số tiền là 85.500.000đồng, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 8.990.000đồng, việc ông P rút một phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện,

không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ yêu cầu khởi kiện

theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự với số tiền

8.990.000đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn P được chấp nhận, nên ông P

không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hơn nữa ông P có đơn xin miễn giảm án

phí, có xác nhận của địa phương là người cao tuổi, nên thuộc trường hợp miễn

án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do vậy bà không phải chịu án phí

theo quy định pháp luật.

- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí tương ứng với số tiền

76.510.000đồng, nhưng do bà Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới thanh toán

nợ, nên cả bà Đ, ông T phải liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố

tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định

tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về

hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn P đối với bà Nguyễn Thị Đ và

ông Nguyễn Văn T;

- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả ông Phạm

Văn P số tiền 76.510.000đồng (bảy mươi sáu triệu, năm trăm mười nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án

xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi

hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

năm 2015.

2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 8.990.000đồng (tám triệu, chín trăm

chín mươi nghìn đồng).

3. Về án phí sơ thẩm:

- Ông Phạm Văn P được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp

luật.

- Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự

sơ thẩm với số tiền 3.825.500đồng (ba triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm đồng), bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo:

- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phạm Văn

P có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

- Riêng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ