- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Q phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2021/HSST Ngày 29/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Ông Đỗ Phượng
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 03 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố
Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2020/TLST-HS, ngày 23 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2021/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Hoàng Văn Q, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23/5/2000. Nơi
ĐKHKTT: Thôn K, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T và bà Phạm Thị L; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: 1. Anh Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 2000. Có mặt.
HKTT: Tổ 2, phường H, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng.
2. Anh Bùi Mạnh C, sinh năm 2000. Có mặt.
HKTT: Thôn B, xã TB, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa
* Người làm chứng: Anh Lại Công M, sinh năm 2002,
HKTT: Thôn L, xã CĐ, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 25/11/2020 Hoàng Văn Q (Là sinh viên trường
Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên ở cùng phòng với anh Bùi Mạnh C, sinh năm 2000, HKTT: Thôn B, xã TB, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa và anh Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 2000, HKTT: Tổ 2, phường H, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng). Sau khi Hoàng Văn Q đi đá bóng về phòng số 104, tòa nhà ký túc xá K5 của trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên thuộc tổ 08, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên thì Q thấy có 02 người bạn nữ giới là bạn của anh Lại Công M, sinh năm 2002, HKTT: Thôn L, xã CĐ, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh (Là sinh viên trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên) là người ở cùng phòng 104 với Q, sau đó Q và M cùng ăn cơm đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày Q có rủ anh M và 02 người bạn nữ của Minh đi ra cổng trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên để uống nước. Khi ra đến cổng trường thì Q đưa ví của Q cho M và bảo với anh M "Em với 02 bạn ra quán trước, anh có tý việc về phòng, tý anh ra sau" sau đó Hoàng Văn Q đi bộ về phòng 104 tòa nhà ký túc xá K5 của trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên mở cửa bằng chìa khóa của Q và vào phòng đóng cửa lại. Sau đó Q dùng hai tay bẻ gãy một thanh sắt đã bị nứt 01 đoạn ở giữa sau đó vứt xuống sàn nhà rồi Q lấy máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu vàng trên bàn học của anh Nguyễn Tiến Q1 và 01 chiếc sạc ở trên giường. Tiếp theo Q đi sang giường của anh C lấy máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen trên bàn học kèm theo cả sạc. Q cho 02 chiếc máy tính vào ba lô của Q rồi mang đi ra ngoài khép cửa lại. Q đi bộ ra cổng phụ của Trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên, đi đến 01 ngõ đường dân sinh rồi Q giấu ba lô có đựng 02 chiếc máy tính ở đó cách trường khoảng 3 - 4m. Sau đó Q đi bộ ra quán trà chanh nơi Minh và bạn đang ngồi uống nước lấy ví rồi đi ra cổng chính thuê xe mô tô đi ra chỗ cất giấu ba lô đựng máy tính lúc trước cầm đến khu vực trường tiểu học Tân Lập, thành phố Thái Nguyên dừng lại rồi đi vào 01 quán bách hóa gần đó để mua một thùng giấy cát tông màu vàng. Q lấy 02 chiếc máy tính trong ba lô cất vào trong thùng giấy rồi mang về khu vực gần trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên giấu thùng giấy đựng 02 chiếc máy tính vào một bụi rậm bên đường. Sau đó Q quay lại cổng trường để trả xe, rồi cầm ba lô đi bộ về phòng 104 ký túc xá trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/11/2020 Hoàng Văn Q đi bộ ra cổng trường thuê xe mô tô đi ra chỗ cất giấu 02 chiếc máy tính để trong thùng giấy cát tông rồi mang vào qua cổng Trường Đại học hỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên khoảng 1m để ở gốc cây cạnh thùng rác đối diện dãy nhà A1 của trường, rồi đi bộ ra cổng mua bánh mỳ. Lúc này anh Cgọi điện cho Hoàng Văn Q về phòng để làm việc với Cơ quan Công an. Q quay về, qua làm việc với Cơ quan Công an thì Hoàng Văn Q đã khai nhận rõ hành vi trộm cắp của mình như đã nêu trên. Q giao nộp 02 chiếc máy tính nêu trên.
Ngày 26/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái
Nguyên trưng cầu định giá tài sản đối với 02 chiếc máy tính là tài sản bị trộm cắp nêu trên. Tại kết luận số 299/HĐĐGTS ngày 28/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên, kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL PRECISION M4800, giá trị tại thời điểm bị mất là 12.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, Model: A510U giá trị tại thời điểm bị mất là 9.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL
PRECISION M4800; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, Model: A510U hiện tài sản đã được thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Tiến Q1 và anh Bùi Mạnh C quản lý và sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 78/KSĐT- KT ngày 22/02/2021 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố, thừa nhận không có oan, sai. Ngày 24/3/2021, bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền sửa chữa máy tính cho anh Tiến Q1 là 2.750.000đ và anh C là 2.450.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo xin lỗi bị hại.
- Người bị hại anh Nguyễn Tiến Q1 và anh Bùi Mạnh C khai: hai anh và
bị cáo là bạn học cùng trường đại học và ở cùng phòng trọ trong ký túc xá. Ngày 25/11/2020, lợi dụng việc anh Tiến Q1 và anh C không có ở phòng trọ, bị cáo Hoàng Văn Q đã trộm cắp hai chiếc máy tính cá nhân của hai anh để trong phòng trọ. Khi báo Công an bị cáo đã tự nguyện mang nộp lại tài sản. Sau khi nhận lại máy tính từ Cơ quan điều tra, máy tính bị hỏng do để lâu ngày không sử dụng nên ngày 24/3/2021 bị cáo Q đã tự nguyện bồi thường cho hai anh tiền sửa chữa máy tính, cụ thể bồi thường cho anh Tiến Q1 hết 2.750.000đ, bồi thường anh C hết 2.450.000 đồng. Tại phiên tòa, anh Tiến Q1 và anh C không có yêu cầu gì khác về dân sự. Về hình phạt: hai bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố
Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65 BLHS xử phạt Hoàng Văn Q từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 đến 24 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.
- Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị
cáo chỉ xin HĐXX xét xem cho được cải tạo tại địa phương để có cơ hội tiếp tục học tập và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.
Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của bị
hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và những chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 25/11/2020, tại phòng 104 nhà ký túc xá K5 trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên thuộc tổ 08, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, Hoàng Văn Q đã thực hiện hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Tiến Q1 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL PRECISION M4800 có trị giá là 12.000.000 đồng và của anh Bùi Mạnh C 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, Model có trị giá là 9.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Hoàng Văn Q trộm cắp là 21.000.000 đồng.
Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Trộm
cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như bản cáo trạng truy tố là đúng pháp luật. Nội dung điều luật như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác tri ̣ giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân muốn có tiền để tiêu sài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên đã cố ý phạm tội.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư
trú rõ ràng, nên căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng nên không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Tiến Q1 và anh Bùi Mạnh
C đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về vật chứng: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL
PRECISION M4800; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, Model: A510U hiện tài sản đã được thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Tiến Q1 và anh Bùi Mạnh C quản lý và sử dụng.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".
1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục
trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số
97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, báo
cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND TPTN; - Sở Tư pháp tỉnh TN; - Công an TPTN; - THADS TPTN; - Bị cáo, BH; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tứ Xuân |