vanban.org

Bản án 79/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 14/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị Bích D phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự trong quá trình điều tra; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2021/HS-ST
Ngày: 14 /7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Ngô Quang Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Tấn

Ông Nguyễn Quang Kim

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Nga - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Ong Văn Chúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14/7/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2021/TLST-HS ngày 14/5/2021 theo Quyết định đưa ra xét xử số 80/2021/QĐXXST-HS ngày 14/6/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thị Bích D, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2002 tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: T8, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Đặng Văn M (đã chết) và con bà Phan Thị H; Chưa có chồng, con; Tiền án: không; Tiền sự: Tại Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 10/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Đặng Thị Bích D trong thời gian 24 tháng, ngày 15/01/2021 Đặng Thị Bích D đã chấp hành xong; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Tổ dân phố H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cần Văn Q, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Đ5, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 07 phút ngày 26/02/2021, Đặng Thị Bích D- sinh năm 2002, trú tại: T8, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đi bộ một mình từ phòng trọ của mình ở tổ dân phố H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến Cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị Thu H- sinh năm 1996 ở tổ dân phố H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang để mua đồ dùng sinh hoạt cá nhân. Khi đến nơi, D thấy cửa hàng không có người đứng bán hàng ở quầy. D đi vào bên trong cửa hàng nhìn thấy chị H đang nằm ngủ trên giường, tại đầu giường cạnh chỗ chị H đang ngủ có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB màu đen, ốp vỏ màu xanh nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của chị H. Quan sát thấy xung quanh không có người, D đi đến đầu giường cạnh chỗ chị H đang ngủ, D dùng tay phải cầm chiếc điện thoại rồi đi ra ngoài cửa, cất giấu chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào bên trong cạp quần đang mặc đi ra khỏi quán để tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, D tháo ốp điện thoại, tháo sim ra vứt xuống ao ở tổ dân phố H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, D mang điện thoại đến Cửa hàng thế giới di động ở tổ dân phố H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, D đưa chiếc điện thoại Iphone XS Max cho anh Cần Văn Q- sinh năm 2000, trú tại: Đ5, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội là quản lý của cửa hàng, nói đây là điện thoại của D bị quên mật khẩu và tài khoản Icloud muốn bán chiếc điện thoại này. Sau khi kiểm tra, anh Q đồng ý mua chiếc điện thoại này với giá 800.000 đồng và đưa cho D số tiền 800.000 đồng; D cầm tiền chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại, anh Q đã tháo chiếc điện thoại lấy linh kiện, đã bán cho khách hàng.

Ngày 06/3/2021, chị Nguyễn Thị Thu H làm đơn trình báo vụ việc đến Công an thị trấn N, huyện Việt Yên.

Cùng ngày 06/3/2021, Đặng Thị Bích D đến Công an thị trấn N, huyện Việt Yên xin đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội và giao nộp 01 chiếc áo thu đông màu đen, hở vai; 01 chiếc quần bò màu xanh là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Công an thị trấn N chuyển hồ sơ, vật chứng và đối tượng Đặng Thị Bích D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 06/3/2021, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường và tiến hành cho D chỉ vị trí chiếc điện thoại. Kết quả D đã xác định đúng hiện trường, chỉ đúng vị trí chiếc điện thoại trộm cắp của chị H để ở đầu giường ngủ. Chị H đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của gia đình chị H. Cơ quan điều tra đã cho bị cáo D xem đoạn video trên, bị cáo D xác định người phụ nữ trong video thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, loại 64G là D.

Ngày 07/3/2021, Cơ quan điều tra đã cho D đi chỉ nơi D vứt chiếc sim điện thoại và ốp điện thoại. Kết quả bị cáo D chỉ được đúng vị trí vứt là ở khu vực ao thuộc tổ dân số H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang nhưng không thu giữ đồ vật gì.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 20 ngày 08/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max màu đen, loại 64GB có giá trị 8.000.000 đồng; 01 ốp điện thoại màu xanh trị giá: 50.000 đồng; 01 sim điện thoại trị giá không có giá trị. Tổng tài sản định giá có giá trị là 8.050.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 14/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đặng Thị Bích D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đặng Thị Bích D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Đặng Thị Bích D thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone XS Max của chị H nêu trong nội dung bản cáo trạng là đúng. Bị cáo không yêu cầu trả lại chiếc áo và quần do đã cũ, không sử dụng.

Bị hại Nguyễn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa, tại lời khai có trong hồ sơ vụ án chị H có trình bày bị mất trộm chiếc điện thoại Iphone XS Max, chị H yêu cầu bị cáo bồi thường 8.050.000 đồng và đề nghị xử lý bị cáo theo pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cần Văn Q vắng mặt tại phiên tòa, tại lời khai của anh Q có trong hồ sơ vụ án, anh Q trình bày có mua chiếc điện thoại di động Iphone XS Max của bị cáo giá 800.000 đồng, anh Q đã hỏi kỹ bị cáo nguồn gốc chiếc điện thoại, sau khi mua anh Q đã tháo linh kiện bán cho khách hàng.

Kiểm sát viên thực hành công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thị Bích D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Thị Bích D 09 tháng tù đến 12 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H 8.050.000 đồng.

Ngoài ra còn đề nghị giải quyết vật chứng, án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ thu thập được nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 07 phút ngày 26/02/2021, tại Cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị Thu H- sinh năm 1996 ở tổ dân phố H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Đặng Thị Bích D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, loại 64GB kèm ốp điện thoại màu xanh của chị Nguyễn Thị Thu H. Giá trị tài sản trộm cắp là 8.050.000 đồng.

Bị cáo Đặng Thị Bích D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Thị Bích D có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, vi phạm vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, do vậy Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ.

Đối với anh Cần Văn Q là người mua chiếc điện không biết chiếc điện thoại Iphone XS Max màu đen 64GB của bị cáo. Quá trình điều tra xác định trước, trong khi mua điện thoại, anh Q không biết là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Q là có căn cứ.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo Đặng Thị Bích D có nhân thân xấu vì năm 2019 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Thị Bích D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vào nhân thân của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà bị cáo thực hiện, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm hại quyền sở hữu nói riêng.

Bị cáo có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Bị cáo công việc không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có yêu cầu bồi thường giá trị tài sản bị cáo trộm cắp không thu hồi được là 8.050.000 đồng, đây là yêu cầu hợp pháp được chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường.

Về xử lý vật chứng:

Một chiếc áo thu đông màu đen và một chiếc quần bò màu xanh thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm, bị cáo không yêu cầu trả lại vì đã cũ, bị cáo không sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

VÒ ¸n phÝ: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh:

Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Thị Bích D 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: 06/3/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Đặng Thị Bích D phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 8.050.000 (Tám triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy một chiếc áo thu đông màu đen, hở vai và một chiếc quần bò màu xanh.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Đặng Thị Bích D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 402.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. N¬i nhËn:

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ

- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;

- VKSND huyện Việt Yên;

- Công an huyện Việt Yên;

(đã ký)

- Cơ quan CSĐT huyện Việt Yên;

- Chi cục THADS huyện Việt Yên;

- Bị cáo;

- Đương sự vắng mặt;

Ng« Quang Dòng

- Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ