vanban.org

Bản án 79/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có phong bì thư bưu điện, túi nilon, mảnh giấy vệ sinh màu trắng ban đầu khi thu giữ của Nguyễn Văn Đ; bên ngoài pho…

(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An và Chi Cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An). Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Tàng trữ tái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có phong bì thư bưu điện, túi nilon, mảnh giấy vệ sinh màu trắng ban đầu khi thu giữ của Nguyễn Văn Đ; bên ngoài pho…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2021/HS-ST
Ngày: 22 -12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Xuân Mông.

Bà Nguyễn Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2021/TLST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2021 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 10/6/1996, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr và bà Nguyễn Thị B (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 28/10/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37M1-778.43 từ nhà mình đến xã N, huyện N để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực đường đi lên chùa Đại Tuệ thuộc xã N thì Đ gặp và mua của một người đàn ông tên Sơn (chưa rõ lai lịch cụ thể) một gói ma túy với giá 400.000 đồng; sau đó, Nguyễn Văn Đ cầm số ma túy vừa mua được và đi về nhà cất xe mô tô. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Văn Đ để gói ma túy mua được trong túi quần bò phía trước bên trái của mình và đi đến khu vực sân bóng thuộc khối Vạn An, thị trấn N, huyện N thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện, bắt giữ và thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 1457/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 04/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số chất rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng là 0,22g (không phẩy hai mươi hai gam)”.

Cáo trạng số 01/CT-VKSNĐ ngày 01/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng 0,22 gam thu giữ của Nguyễn Văn Đ đã gửi đi giám định hết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 bì thư niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có phong bì thư bưu điện, túi nilon, mảnh giấy vệ sinh màu trắng ban đầu khi thu giữ của Nguyễn Văn Đ; bên ngoài phong bì thư ghi dòng chữ “Mẫu vật còn lại của Nguyễn Văn Đ”. Đây là vật không có giá trị sử dụng, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai số ma túy trên là do Đ và Nguyễn Văn L cùng góp tiền để mua về sử dụng; Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra lấy lời khai của Nguyễn Văn L nhưng L không khai nhận và không biết việc Đ mua ma túy trên nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn L. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ, ngày 28/10/2021, tại khu vực sân bóng thuộc khối Vạn An, thị trấn N, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam ma tuý (Methamphetamine) để sử dụng thì bị bắt quả tang. Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Trần Hoàn là người có công được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bác ruột Nguyễn Văn Diên là liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng 0,22 gam thu giữ của Nguyễn Văn Đ đã gửi đi giám định hết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 bì thư niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có phong bì thư bưu điện, túi nilon, mảnh giấy vệ sinh màu trắng ban đầu khi thu giữ của Nguyễn Văn Đ; bên ngoài phong bì thư ghi dòng chữ “Mẫu vật còn lại của Nguyễn Văn Đ”. Đây là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh nhưng chưa rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai số ma túy trên là do Đ và Nguyễn Văn L cùng góp tiền để mua về sử dụng; Quá trình điều tra, Nguyễn Văn L không khai nhận và không biết việc Đ mua ma túy trên, nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn L là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 28/10/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có phong bì thư bưu điện, túi nilon, mảnh giấy vệ sinh màu trắng ban đầu khi thu giữ của Nguyễn Văn Đ; bên ngoài phong bì thư ghi dòng chữ “Mẫu vật còn lại của Nguyễn Văn Đ”.

(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An và Chi Cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ