vanban.org

Bản án 79/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Ngọc P. Bà P được ly hôn với ông Mạnh Xuân T.

Về con chung: Giao con chung tên Mạnh An K, sinh ngày 15/8/2017 cho bà Lê Thị Ngọc P nuôi dưỡng. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngọc P - Mạnh Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Ngọc P. Bà P được ly hôn với ông Mạnh Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 21/10/2021
V/v: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tư

2. Bà Võ Thị Mỹ Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2021/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 5 năm 2021, về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Lê Thị Ngọc P, sinh năm 1999; địa chỉ số B, Đường P, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin vắng mặt)

* Bị đơn: Mạnh Xuân T, sinh năm 1991; địa chỉ số M, Đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/4/2021 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn Lê Thị Ngọc P trình bày:

Sau khi tìm hiểu một thời gian và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên bà và ông Mạnh Xuân T tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 3, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 19/10/2017. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung, có 01 con chung tên Mạnh An K, sinh ngày 15/8/2017, hiện đang sống chung với bà; bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con; về cấp dưỡng nuôi con, bà P xin rút lại yêu cầu, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Mạnh Xuân T không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà P và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Ngọc P khởi kiện ông Mạnh Xuân T có địa chỉ tại thành phố Vĩnh Long để yêu cầu xin ly hôn và nuôi con; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn Lê Thị Ngọc P có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Mạnh Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc P, Hội đồng xét xử thấy: Bà P và ông Mạnh Xuân T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 3, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long ngày 19/10/2017, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho ông T biết việc bà P xin ly hôn nhưng ông T không có ý kiến phản đối. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông T đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà P yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Bà P, ông T chung sống có 01 con chung tên Mạnh An K, sinh ngày 15/8/2017, hiện đang sống chung với bà P. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông T đều vắng mặt và cũng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà P. Do đó, nhằm để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con, nên giao con chung cho bà P nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con, bà P xin rút lại yêu cầu. Xét thấy việc bà P rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Ngọc P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc P phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 244 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Ngọc P. Bà P được ly hôn với ông Mạnh Xuân T.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Mạnh An K, sinh ngày 15/8/2017 cho bà Lê Thị Ngọc P nuôi dưỡng. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc P về việc yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Ngọc P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Buộc bà Lê Thị Ngọc P chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000208, ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, nên bà P không phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bà Lê Thị Ngọc P, ông Mạnh Xuân T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ