- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị N và anh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị N , xử cho chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2021/HNGĐ-ST Ngày: 26/8/2021 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân
Ông Hà Thanh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2021/QĐST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N , sinh năm: 1985
Trú tại: Xóm 5, xã Q, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn T, xã Liên Hà, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.
(Tại phiên tòa chị N và anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày: Năm 2007 chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 20/02/2008.
Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, đôi lúc cũng có mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Đến đầu năm 2009 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do giữa vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, quan điểm, lối sống làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị N đã tìm cách nói chuyện với anh T nhưng không được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Năm 2013 anh T bỏ đi khỏi địa phương, không ai biết anh T đi đâu. Vì vậy, chị N đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tuyên bố anh T mất tích và đã được Tòa án giải quyết bằng Quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 25/5/2021. Nay chị N xác định mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh T .
Về con chung: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Hoàng Việt, sinh ngày 29/3/2008. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị N không còn yêu cầu gì khác.
2. Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã tuyên bố anh T mất tích theo quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 25/5/2021 nên Tòa án không tiến hành làm việc được với anh T . Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh T đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Vì vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị N .
Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Hoàng Việt, sinh ngày 29/3/2008 cho chị Phạm Thị N có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra để xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, chị Phạm Thị N vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, còn anh Nguyễn Văn T vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T theo thủ tục chung là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T xây dựng gia đình với nhau năm 2007, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 20/02/2008 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị N xác định vợ chồng anh chị chỉ hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, quan điểm và lối sống của hai bên quá khác nhau nên vợ chồng thường xuyên xung đột, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, mệt mỏi. Mặc dù, chị N đã cố gắng tìm cách để cải thiện quan hệ vợ chồng nhưng không được và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay nên chị N yêu cầu ly hôn. Còn anh T vắng mặt tại địa phương và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Xét thấy, chị N và anh T phát sinh mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau nên không thông cảm chia sẻ với nhau trong cuộc sống, do không có biện pháp nào để cải thiện quan hệ tình cảm nên anh chị đã tự sống ly thân trong một thời gian dài, trong thời gian sống ly thân thì hai bên không còn sự quan tâm đến nhau mà chị N thì về quê sống còn anh T cũng bỏ đi khỏi địa phương và Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên bố anh T mất tích theo quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 25/5/2021. Vì vậy, nếu kéo dài quan hệ hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N, xử cho chị N và anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Hoàng Việt, sinh ngày 29/3/2008. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị N là người trực tiếp nuôi con, hiện nay con anh chị đã trên 07 tuổi và cũng trình bày nguyện vọng được sống với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Đồng thời, hiện nay anh T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Vì vậy, cần tiếp tục giao con cho chị N có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị N , xử cho chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con là Nguyễn Hoàng Việt, sinh ngày 29/3/2008 cho chị Phạm Thị N có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phạm Thị N đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0015361 ngày 10/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Chị Phạm Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đoàn Hạnh Trang |