vanban.org

Bản án 79/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 20/08/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Mai Th

Về hôn nhân: cho bà Cao Thị Mai Th được ly hôn với ông Mao Chung Yu. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Th trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Mai Th
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:79/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 20-8-2021
V/v "Tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Hiền Trúc Lan

Bà Lê Kim Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Thị Hoàng Oanh -Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Mai Th, sinh năm 1995; Địa chỉ: phường L, quận B Thủy, thành phố Cần Thơ. Đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Mao Chung Yu, sinh năm 1974; Địa chỉ: thành phố Dương Mai, huyện Đào Viên, Đài Loan. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Cao Thị Mai Th trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Mao Chung Yu đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 14/01/2014, vào Sổ đăng ký kết hôn số 31, Quyển số 01, ngày 23/01/2014. Tổ chức lễ cưới vào ngày 08/6/2014 tại nhà bà Th. Sau khi đám cưới xong, ông Mao Chung Yu trở về Đài Loan, không làm thủ tục bảo lãnh bà Th, từ đó không liên lạc với bà lần nào. Nay bà Th yêu cầu ly hôn với ông Mao Chung Yu; về con chung và tài sản chung, nợ chung: Không có.

Do bị đơn là ông Mao Chung Yu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không rõ ý kiến.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa thể hiện, những người tiến hành tố tụng, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã thẩm tra, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Th khởi kiện xin ly hôn với ông Mao Chung Yu cư trú tại Đài Loan nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, phù hợp với quy định tài khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Th đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Mao Chung Yu đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt. Trên cơ sở đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Th và ông Mao Chung Yu là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống thì hai bên không còn sống chung nữa, tình trạng ly thân giữa vợ chồng kéo dài đã lâu, không còn liên lạc với nhau nên không thể hàn gắn được. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà Th và ông Mao Chung Yu không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho bà Th được ly hôn với bà ông Mao Chung Yu, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Th khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu khởi kiện của đương sự.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác tư pháp, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Mai Th

- Về hôn nhân: cho bà Cao Thị Mai Th được ly hôn với ông Mao Chung Yu.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Th trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Cao Thị Mai Th phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 000154 ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Th đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Bà Cao Thị Mai Th phải chịu 200.000đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000đồng theo biên lai thu số 0005076 ngày 25/12/2020 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Th còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Mao Chung Yu. Bà Thi đã nộp đủ chi phí tố tụng

Bà Thi phải chịu theo quy định, công nhận đã nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, ông Mao Chung Yu được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.

Cỡ chữ