- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bá H phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Bá H phạm tội Giết người, xử phạt bị cáo Trần Bá H 18 (mười tám) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2020/HSST Ngày 26 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lò Văn Điệt.
Thẩm phán:
Ông Hoàng Văn Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn, ông Bùi Thế Anh, bà Bùi Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Bá H, sinh năm 1976 tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi tạm trú: Bản T, xã G, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Trần Bá K và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); có vợ Cầm Thị B (đã ly hôn), hiện đang sống như vợ chồng với bà Cao Thị T và có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/7/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội Đánh bạc; ngày 29/3/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc (đều đã được xóa án tích); bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2020 đến nay, có mặt.
* Bị hại:
1. Bà Cao Thị T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Bản Tân Ba, xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt.
2. Chị Trần Thị Th, sinh năm 1997; nơi cư trú: Bản Tân Ba, xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người làm chứng: Ông Trần Tiến Công, sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản Phiêng Ban 1, thị trấn Bắc Yên, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Bá H và Cao Thị T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2008, tại bản T, xã G, huyện P, tỉnh Sơn La, có 01 con chung Trần Bá V sinh năm 2009, bà T có 01 con riêng là cháu Trần Thị Th sinh năm 1997. Quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, đến đầu năm 2020 thì quyết định chia tay. Tuy nhiên, chưa thống nhất với nhau về việc chia tài sản và nuôi con. Tối ngày 04/3/2020, H nằm ngủ ở tầng 01, còn ba mẹ con bà T ở tầng 02, khi bà T cùng cháu V ngủ trong buồng còn cháu Th vào nhà vệ sinh đánh răng. H gọi điện thoại bảo T xuống gặp nói chuyện nhưng bà T không xuống, H đi lên tầng 02 bảo cháu V xuống ngủ cùng nhưng V không đi, H liền tát cháu V, thấy V bị đánh bà T đã chửi và cãi nhau với H, cháu V chạy vào phòng vệ sinh với cháu Th. H bực tức đi xuống tầng 01 nằm nhưng cho rằng bà T đã ngăn cản không cho tiếp xúc với con nên quay lên tầng 02 đánh bà T nếu còn ngăn cản không cho V xuống ngủ với H. Khi đi lên cầu thang H cầm theo 01 con dao (loại dao Mèo), lúc lên đến đầu cầu thang thì gặp T, hai người lại tiếp tục cãi, chửi nhau. H bực tức nói với bà T “Hôm nay tao giết hết chúng mày” rồi tay phải cầm dao lao vào chém bà T trúng vào bắp tay trái, bà T ôm lấy H van xin nhưng H không dừng lại mà tiếp tục lao vào chém vào phía sau gáy, thấy mẹ bị chém cháu Th chạy đến can ngăn thì H quay sang quát “Hôm nay tao giết cả mày”, rồi chém một nhát vào bả vai của Th, thấy con bị chém, bà T giằng co để tước con dao trên tay H nhưng không được, bà T bị H đẩy ngã ngồi xuống sàn nhà, tiếp tục vung dao chém vào vùng thái dương bên trái, cháu Th chạy vào buồng ngủ lấy một chiếc quạt điện ném vào người H nhưng H không dừng lại mà tiếp tục chém, bà T dùng tay túm được lưỡi dao khi rằng co thì bị cứa đứt lòng bàn tay và ngón tay. Do bị đau bà T buông tay ra thì bị H chém liên tiếp vào vùng mặt, ngực và bụng rồi ngã ngửa xuống sàn, cháu Th chạy vào buồng ngủ cầm một
2
bình đựng nước bằng thủy tinh quay ra đập vào đầu H, H quay sang chém một nhát vào thái dương bên phải, vết thương kéo dài xuống đến gò má của cháu Th, bà T thấy Th bị H chém liền lao đến ôm lấy chân H làm cả hai ngã xuống sàn nhà, do bị va đập nên con dao văng ra khỏi tay H, bà T và H tiếp tục giằng co còn cháu Th chạy xuống tầng một kêu cứu, anh Trần Tiến C cháu rể của bà T thấy cháu Th kêu cứu đã chạy đến can ngăn. Sau đó cùng hàng xóm đưa bà T và cháu Th đến Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên cấp cứu. H một mình ở nhà cầm lấy bình rượu ra uống, rồi cầm con dao nhọn đã sử dụng để chém mẹ con bà T tự đâm vào bụng để tự sát nhưng không chết. Sau đó H đã bị Cơ quan Công an huyện Phù Yên bắt giữ.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 08 giờ 15 phút ngày 05/3/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Xác định hiện trường xảy ra vụ án là tại gian thờ tầng 02 nhà ở của Trần Bá H và Cao Thị T. Tại hiện trường, có nhiều mảnh thủy tinh bị vỡ vụn, dưới các mảnh thủy tinh bị vỡ là chất màu nâu đã khô dạng vũng.
* Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể của bị hại:
- Biên bản lập hồi 08 giờ ngày 07/3/2020 của Cơ quan điều tra, tại Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên đối với bà Cao Thị T. Tại vùng đầu có một vết rách ở vị trí chân tóc giáp với cùng gáy bên trái có kích thước 7,3cm và một vết rách da hình vòng cung tại vùng thái dương bên trái có kích thước 5,4cm; nhiều vết thương tại khu vực vùng lòng bàn tay và cánh tay, vùng mặt, vùng ngực và bụng với các kích thước khác nhau từ 01cm đến 14,3cm.
- Biên bản lập hồi 09 giờ ngày 07/3/2020 của Cơ quan điều tra, tại Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên đối với cháu Trần Thị Th. Tại vùng đầu có một vết rách ra hình vòng cung, từ vùng thái dương kéo đến vùng gò má có kích thước 14,8cm; tại vùng bả vai bên phải có một vết rách da sắc gọn dạng đường thẳng có kích thước 7,6cm.
* Kết quả giám định:
Bản kết luận giám định pháp y về AND số: 105 ngày 30/3/2020 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Chất màu nâu đã khô trên con dao thu giữ của Trần Bá H và chất màu nâu thu tại hiện trường trùng khớp với hoàn toàn đối với AND của Cao Thị T; không phát hiện AND của Trần Thị Th trên con dao thu giữ của Trần Bá H.
3
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 64 ngày 25/3/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Cao Thị T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 43%. Cơ chế hình thành nên các vết thương là do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn gây nên.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 65 ngày 26/3/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thị Th do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%. Cơ chế hình thành nên các vết thương là do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn gây nên.
* Kết quả thực nghiệm điều tra: Tại biên bản thực nghiệm điều tra lập hồi 14 giờ ngày 25/6/2020, bị cáo Trần Bá H tiến hành thực nghiệm điều tra lại toàn bộ hành vi gây án đối với bị hại là bà Cao Thị T và cháu Trần Thị Th. Kết quả thực nghiệm hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại và thương tích trên thân thể của các nạn nhân.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Cao Thị T, Trần Thị Th yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 540.000.000đ (năm trăm bốn mươi triệu đồng). Trong đó bà T yêu cầu bồi thường 240.000.000đ, cháu Th yêu cầu bồi thường 300.000.000đ. Hiện bị cáo chưa bồi thường cho các bị hại.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 con dao nhọn, loại lưỡi sắc, chuôi dao bằng gỗ dài 14,3cm có đường vành trung bình 09cm, lưỡi dao dài 24,5cm x bản rộng nhất 4,8cm, đầu nhọn của lưỡi dao bị uốn cong trên lưỡi dao và chuôi dao có bám dính nhiều chất màu nâu khô, dao đã qua sử dụng và một số vật chứng khác có liên quan.
Tại Cáo trạng số: 83/CT-VKS-P2 ngày 27/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Trần Bá H về tội Giết người quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Bá H phạm tội Giết người.
Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Bá H từ 16 đến 18 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Trần Bá H và bị hại bà Cao Thị T thỏa thuận mức bồi thường, tổng số tiền là 250.000.000đ, trong đó: Phần của bà T là 100.000.000đ, cháu Th 150.000.000đ. Hiện bị cáo chưa bồi thường cho các bị hại.
4
* Vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Bá H: Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Giết người là có căn cứ đúng người, đúng tội. Do có sự mâu thuẫn về tình cảm vợ chồng, vợ ngăn cản không cho bị cáo gặp và tiếp xúc với con chung Trần Bá V, dẫn đến bực tức không kìm chế được. Bị cáo đã dùng dao chém vợ và cháu Th con riêng của vợ nhưng không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng nên đã tự dừng lại. Sau khi bị bắt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 12 năm tù.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận nhất trí với đề nghị của Luật sư và xin giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận của bị hại không đồng ý với quan điểm của Luật sư đưa ra, nếu không có sự chống đỡ quyết liệt của bị hại thì bị cáo sẽ chém và trọc thủng ngực và bụng của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để xử bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, Luật sư không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trần Bá H và Cao Thị T chung sống với nhau như vợ chồng, có 01 con chung, quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tối ngày 04/3/2020, H cho rằng bà T ngăn cản không cho gặp con nên đã sử dụng 01 con dao sắc, nhọn (loại dao Mèo) chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, ngực, bụng và
5
tay bà T. Khi cháu Trần Thị Th con riêng bà T vào can ngăn H đã dùng dao chém 02 nhát vào bả vai và đầu. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản khám nghiệm hiện trường có nhiều mảnh thủy tinh bị vỡ vụn, dưới các mảnh thủy tinh bị vỡ là chất màu nâu đã khô dạng vũng, bản ảnh hiện trường nơi xảy ra vụ án;
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể của bị hại, tại Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên đối với bà Cao Thị T. Tại vùng đầu có một vết rách ở vị trí chân tóc giáp với cùng gáy bên trái có kích thước 7,3cm và một vết rách da hình vòng cung tại vùng thái dương bên trái có kích thước 5,4cm và nhiều vết thương tại lòng bàn tay và cánh tay, vùng mặt, vùng ngực và bụng với các kích thước khác nhau từ 01cm đến 14,3cm. Đối với cháu Trần Thị Th, tại vùng đầu có một vết rách ra hình vòng cung, từ vùng thái dương kéo đến vùng gò má có kích thước 14,8cm, tại vùng bả vai bên phải có một vết rách da sắc gọn dạng đường thẳng có kích thước 7,6cm;
Kết luận giám định pháp y về AND số: 105/20/TC-ADN ngày 30/3/2020 của Viện pháp y quốc gia kết luận: ADN trên con dao thu giữ của Trần Bá H hoàn toàn trùng khớp với AND của bà Cao Thị T; kết luận giám định pháp y về thương tích số: 64, 65/TgT ngày 25 và ngày 26/3/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Cao Thị T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 43%. Cơ chế hình thành nên các vết thương là do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn gây nên;
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thị Th do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%. Cơ chế hình thành nên các vết thương là do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn gây nên;
Kết quả thực nghiệm điều tra ngày 25/6/2020, bị cáo Trần Bá H tiến hành thực nghiệm điều tra lại toàn bộ hành vi gây án đối với bị hại Cao Thị T, Trần Thị Th. Phù hợp với lời khai của các bị hại, nhân chứng và thương tích trên thân thể của các bị hại;
- Vật chứng thu giữ của vụ án là 01 con dao sắc nhọn, chuôi dao làm bằng gỗ dài 14,3cm, có đường vanh trung bình 09cm, lưỡi dao dài 24,5cm, bản rộng nhất 4,8cm, đầu nhọn của lưỡi dao bị uốn cong, trên chuôi dao và lưỡi dao có dính bám nhiều chất màu nâu đã khô.
6
Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Từ các căn cứ chứng minh nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Bá H phạm tội Giết người quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Trần Bá H nhận thức được hành vi sử dụng 01 con dao sắc, nhọn dài 38,8cm là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, ngực, bụng và tay của bà Cao Thị T, gây tổn hại sức khỏe 43%; chém 02 nhát vào đầu và bả vai của cháu Trần Thị Th, gây tổn hại sức khỏe 11%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị hại không chết là do có người đến can ngăn và được đưa đi cấp cứu kịp thời.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo phạm tội có 02 tình tiết định khung hình phạt, giết 02 người trở lên quy định tại điểm a; có tính chất côn đồ quy định tại điểm n thuộc khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điển s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân bị cáo có 02 tiền án về tội Đánh bạc (đều đã được xóa án tích) nhưng được coi là có nhân thân xấu. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 06/7/2020, bà Cao Thị T và cháu Trần Thị Th có đơn yêu cầu bị cáo H phải bồi thường các khoản chi phí cho việc cứu chữa điều trị, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng bị giảm sút cần phải phẫu thuật thẩm mỹ tổng
7
số tiền 540.000.000đ. Trong đó bà T yêu cầu bồi thường 240.000.000đ, cháu Th yêu cầu bồi thường 300.000.000đ.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Bá H và bị hại bà Cao Thị T đã thỏa thuận mức bồi thường các khoản chi phí, tổng số tiền là 250.000.000đ, trong đó: Phần của bà T là 100.000.000đ, cháu Th 150.000.000đ, sự thỏa thuận mức bồi thường của bị cáo và bị hại hoàn toàn tự nguyện, cần được chấp nhận.
Về vật chứng:
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo Trần Bá H xét thấy không liên quan đến vụ án, nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 bộ quần áo thu của Trần Bá H; 01 chiếc áo thu của Trần Thị Th; 01 chiếc áo thu của Cao Thị T, xét thấy không còn giá trị sử dụng, bị cáo và bị hại không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với Nhóm tóc thu giữ tại ví trí số 3; nhóm tóc thu giữ tại vị trí số 5; mẫu chất màu nâu thu tại vị trí số 6; chất màu nâu thu tại ví trí số 8; chất màu nâu thu tại ví trí số 11; 12 mảnh vỡ thủy tinh thu tại vị trí số 01; 01 chiếc cốc thủy tinh; 01 chiếc quạt thu tại vị trí số 01; các vật chứng trên đều được thu giữ tại hiện trường vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Bá H phạm tội Giết người, xử phạt bị cáo Trần Bá H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 590 Bộ luật dân sự.
Chấp nhận sự thỏa thuận mức bồi thường các khoản chi phí giữa bị cáo Trần Bá H và bị hại bà Cao Thị T, tổng số tiền là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó bồi thường cho bà Cao Thị T số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), bồi thường cho cháu Trần Thị Th số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng).
8
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả cho bị cáo Trần Bá H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 màu bạc xám, có số seri: 356991062745880; mặt sau bám dính chất màu nâu đã khô, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Bá H.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong hộp có 01 chiếc áo phông cộc tay cổ tròn màu xanh nhãn hiệu ARISTINO cỡ XL; 01 chiếc quần nỉ màu xám nhãn hiệu T90 dài 80cm thu của Trần Bá H;
+ 01 hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong hộp có 01 chiếc áo phông cộc tay thu của Trần Thị Th;
+ 01 hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong hộp có 01 chiếc áo phông dài tay, cổ tròn màu vàng nhạt thu của Cao Thị T;
+ 01 hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong hộp có 12 mảnh vỡ thủy tinh có hình dáng kích thước khác nhau;
+ 01 hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong hộp có 01 chiếc quạt nhãn hiệu Media;
+ 01 hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong hộp có 02 chiếc dép tông màu trắng;
+ 01 chiếc bình thủy tinh, có đường kính 0,27m cao 0,42m bên trong có chứa chất lỏng màu vàng nhạt mùi rượu; 01 chiếc cốc thủy tinh có quai, cao 15cm, đường kính 05cm;
+ 01 con dao nhọn, loại một lưỡi sắc, chuôi dao bằng gỗ dài 14,3cm có đường vanh trung bình 09cm, lưỡi dao dài 24,5cm x 4,8cm, đầu nhọn của lưỡi dao bị uốn cong;
+ 05 chiếc phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong bên trong phong bì có: Nhóm tóc thu giữ tại ví trí số 3, nhóm tóc thu giữ tại vị trí số 5, mẫu chất màu nâu thu tại vị trí số 6, chất màu nâu thu tại ví trí số 8, chất màu nâu thu tại ví trí số 11.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La với Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La lập ngày 28/7/2020).
9
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Trần Bá H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 12.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tổng cộng 02 khoản bị cáo phải thi hành là 12.700.000đ (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/8/2020). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Bị cáo; LS; bị hại; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-VA. 10 HỘI THẨM NHÂN DÂN 11 Bùi Thị Đào Nguyễn Hồng Sơn Hoàng Văn Tuyên Bùi Thế Anh 12 13 HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Thế Anh Nguyễn Hồng Sơn Hoàng Trung Thành Lèo Thị Chan | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Văn Điệt THẨM PHÁN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Văn Điệt THẨM PHÁN CHỦ THẨM PHÁN TỌA PHIẾN TÒA Tòng Thị Hiền |