vanban.org

Bản án 79/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 22/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Văn Minh H (tên gọi khác: Không) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Văn Minh H 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Văn Minh H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Minh H phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Văn Minh H (tên gọi khác: Không) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 103 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2020/HS-ST
Ngày: 22/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thập.

2. Ông Vũ Duy Tiến.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Văn Minh H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/3/2002 tại Kon Tum; Nơi cư trú: Số 07 đường L, phường Th, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Minh T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1973; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 31 tháng 01 năm 2020. Bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 5 năm 2020 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

1. Anh A Th, sinh ngày 10/10/2004;

Người đại diện hợp pháp của anh A Th: Bà Y Ư, sinh năm 1966 (là mẹ đẻ của anh Th);

Cùng trú tại: Thôn N, phường Th, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có mặt tại phiên toà).

2. Bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1971;

Trú tại: Số 86/18 K, phường Th, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Đinh Thế Th, sinh năm 1983;

Trú tại: Số 114 B, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1973;

Trú tại: Số 07 đường L, phường Th, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có mặt tại phiên toà).

- Người làm chứng:

Anh Đinh Hữu T, sinh ngày 24/10/2003;

Người đại diện hợp pháp của anh Đinh Hữu T: Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1971 (là mẹ);

Cùng trú tại: Số 86/18 K, phường Th, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/01/2020 và ngày 27/4/2020, Văn Minh H đã thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản”. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 28/01/2020 Văn Minh H sau khi chơi game hết tiền, biết bạn mình là A Th mới mua điện thoại di động, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để lấy tiền chơi game. Văn Minh H nhờ Huỳnh Hưng D là bạn cùng chơi game chở tới nhà A Th và hỏi mượn điện thoại di động hiệu Samsung A20s màu xanh đen của A Th, nói là gọi điện xong sẽ trả lại. Th đồng ý cho mượn, H lên xe để Huỳnh Hưng D chở về quán Game. Trên đường đi về, H gặp bạn là Lê Minh Th, H đưa điện thoại di động cho Th và nói với Th là điện thoại của H và nhờ Th mang điện thoại đi cầm cố. Lê MinhTh đã bán điện thoại cho chủ tiệm cầm đồ là anh Đinh Thế Th được 1.000.000 đồng về đưa cho H. H cho Th 100.000 đồng, số tiền còn lại 900.000 đồng, H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá số 08/GĐ-TS ngày 30/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố Kon Tum kết luận: Giá trị điện thoại di động Samsung A20s, màu xanh đen tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.012.000 đồng (Bốn triệu không trăm mười hai nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 27/4/2020, sau khi chơi hết tiền tại quán game, Văn Minh H rủ bạn cùng chơi game là Đ (hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch) đi đến quán câu cá Không Gian Xanh trên đường Bắc Kạn, phường Thắng Lợi của bà Nguyễn Thị Thu Th để lấy trộm tài sản thì Đ đồng ý đi cùng. H và Đ đi bộ đến quán, Đ đứng ngoài, còn H đi vào lấy trộm 01 âm ly màu đen, hiệu Targura Suhyoung của bà Nguyễn Thị Thu Th mang về cất giấu tại nhà của mình. Đến sáng cùng ngày, bà Th cùng anh Đinh Hữu T xem lại Camera, phát hiện sự việc và yêu cầu H trả lại tài sản. H đã mang âm ly lấy trộm được lên trả cho bà Th.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 41/ĐG-TS ngày 22/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố Kon Tum kết luận: Giá trị âm ly màu đen tại thời điểm bị mất trộm là 2.797.000 đồng (Hai triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại một âm ly màu đen, nhãn hiệu Targura Suhyoung cho bà Nguyễn Thị Thu Th.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20s màu xanh đen, sau khi chiếm đoạt được Văn Minh H đưa cho Lê Minh Th và Th đã bán cho anh Đinh Thế Th và anh Th đã bán cho người đàn ông, không rõ nhân thân lai lịch nên không thu hồi được.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKSTPKT ngày 24/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo Văn Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 và điểm b, h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Văn Minh H từ 06 tháng tù đến 09. tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Văn Minh H từ 06 tháng tù đến 09. tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 103 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Văn Minh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Tài sản đã trả cho chủ sở hữu và bị hại đã được bồi thường thiệt hại không yêu cầu bồi thường gì, nên không đề cập.

Bị cáo văn Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi truy tố của bị cáo:

Trên cơ sở lời khai của bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định:

Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 28/01/2020, Văn Minh H sau khi chơi game hết tiền và biết bạn mình là A Th mới mua điện thoại di động, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Văn Minh H đã dùng thủ đoạn gian dối hỏi mượn điện thoại di động hiệu Samsung A20s màu xanh đen của anh A Th, nói gọi xong sẽ trả lại. Sau khi cầm điện thoại, Văn Minh H đã bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Chiếc điện thoại di động Văn Minh H chiếm đoạt có giá trị là 4.012.000 đồng (Bốn triệu không trăm mười hai nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Văn Minh H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 27/4/2020 sau khi chơi hết tiền tại quán game, Văn Minh H rủ bạn cùng chơi game là Đ (hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch) đi đến quán câu cá Không Gian Xanh trên đường Bắc Kạn, phường Thắng Lợi của bà Nguyễn Thị Thu Th để lấy trộm tài sản. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 âm ly màu đen, hiệu Targura Suhyoung của bà Nguyễn Thị Thu Th mang về cất giấu tại nhà của mình. Giá trị âm ly màu đen Văn Minh H chiếm đoạt tại thời điểm bị mất trộm là 2.797.000 đồng (Hai triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Văn Minh H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố bị cáo Văn Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Văn Minh H sau khi học xong lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà, nhưng không chịu lao động, thích tụ tập chơi bời cùng các đối tượng xấu và nghiện trò chơi điện tử (game). Để có tiền chơi game bị cáo thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” khi bị cáo mới 17 tuổi 10 tháng 24 ngày. Sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì đến ngày 27/4/2020 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Gây dư luận xấu trong xã hội; ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Việc đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng biện pháp chế tài hình sự đối với bị cáo là hoàn toàn cần thiết.

. Xét nhân thân: Bị cáo Văn Minh H có nhân thân tốt là người chưa có tiền án, tiền sự.

. Xét tình tiết tiết tăng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Văn Minh H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo Văn Minh H đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy tuy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo lại bị xét xử một lần về hai tội, nên Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình. Đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo Văn Minh H khi thực hiện hành vi phạm tội dưới 18 tuổi, nên áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cũng cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống có ích cho xã hội.

Do bị cáo Văn Minh H xét xử cùng một lần phạm hai tội, nên căn cứ vào Điều 103 của Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với từng tội và buộc bị cáo Văn Minh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” còn có thể xử phạt bổ sung bằng tiền, nhưng khi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo chưa đủ 18 tuổi, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Đối với Hoàng Hưng D là người chở Văn Minh H đến nhà A Th và Lê Minh Th là người được H nhờ đi bán điện thoại cho anh Đinh Thế Th. Hiện Hoàng Hưng D và Lê Minh Th không có mặt tại địa phương, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với anh Đinh Thế Th là người mua điện thoại di động của Lê Minh Th. Tuy nhiên anh Th không biết điện thoại di động Samsung A20s màu xanh đen là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Đ là người đi cùng với Văn Minh H thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum tiếp tục điều tra, xử lý sau.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Thu Th đã nhận lại tài sản, anh A Th đã được bà Nguyễn Thị S là mẹ của bị cáo Văn Minh H bồi thường thiệt hại số tiền là 3.000.000 đồngvà không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Bà Nguyễn Thị S không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 3.000.000 đồng mà bà S đã bồi thường thiệt hại cho anh A Th thay bị cáo, nên HĐXX không đề cập đến.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu Th một âm ly màu đen, nhãn hiệu Targura Suhyoung là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Văn Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Văn Minh H (tên gọi khác: Không) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

1.Căn cứ khoản 1 Điều 174 và các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Văn Minh H 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2.Căn cứ khoản 1 Điều 173 và các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Văn Minh H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

3. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 103 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Văn Minh H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 04/5/2020.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Văn Minh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (22/7/2020), bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTP;

- Công an TP;

- Thi hành án dân sự TP;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Nguyễn Thị Hường

- Lưu hồ sơ.

Cỡ chữ