vanban.org

Bản án 79/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trường G - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 79/2020/HS-PT
!
Ngày: 21-02-2020

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:!

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: 1. Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

2. Bà Nguyễn Hoàng Anh

Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh

Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" thành" phố" Hồ" Chí" Minh" tham" gia" phiên"tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/TLPT-HS ngày 02/01/2020 đối với Lê Trường G do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê! Trường! G; giới tính: nam; sinh năm: 1993 tại Quảng Ngãi; cư trú: Thôn N, xã ND, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê C và bà Nguyễn Thị N V; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con;

Tiền án: Ngày 28/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 07/6/2019.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 12/7/2019 (có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết với nhau từ trước nên Phi (chưa rõ lai lịch) đã nhiều lần thuê Lê Trường G và Mai Huy C1 vận chuyển xe trộm cắp đến địa điểm do Phi chỉ định với tiền công từ 100.000 đồng đến 120.000 đồng/chuyến.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/7/2019, Phi hẹn G đến siêu thị CoopXtra thuộc phường Linh Trung, quận Thủ Đức và giao cho G 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 72G1-326.12 để gửi vào bãi xe siêu thị sau đó giao thẻ lại cho Phi. Khoảng 20 giờ 12 phút cùng ngày, Phi tiếp tục giao cho G xe Honda Wave màu trắng biển số 99G1-261.72 để gửi vào bãi xe siêu thị sau đó Phi chở G về nhà trọ và hẹn sáng hôm sau sẽ gọi G đi vận chuyển xe rồi tính tiền công. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/7/2019, Phi điện thoại nói Mai Huy C1 đến khu vực ngã tư An Sương chở Trần Tuấn K và Nguyễn Quang V cùng đến bãi xe siêu thị CoopXtra để vận chuyển xe cho Phi. Tại trước siêu thị CoopXtra, Phi đưa cho C1 01 thẻ xe của bãi xe Ngã tư Ga để C1 lấy và vận chuyển về Long An. C1 điện thoại nhờ Huỳnh Chí T1 đến Ngã tư Ga chạy giúp xe máy cho C1 nên T1 đồng ý. Tại trước Ngã tư Gã, T1 nhận thẻ xe từ C1 sau đó vào bãi lấy xe Honda Winner biển số 76G1-374.67 để chạy về Long An. Cùng lúc này, Lê Trường G cũng điều khiển xe Honda Wave biển số 71C3-313.36 do Phi đưa tại khu vực cầu vượt Sóng Thần đến khu vực Ngã tư Ga đưa thẻ giữ xe của bãi xe Siêu thị CoopXtra cho C1 theo yêu cầu của Phi thì cả ba bị bắt quả tang. Qua xác minh, xe gắn máy biển số 99G1-261.72 của Nguyễn Ngọc Bình bị mất trộm trước nhà số 5C hẻm 56, khu phố Giãn Dân, phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9 vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 11/7/2019. Xe gắn máy biển số 76G1-374.67 của Lê Đức Anh Tuấn gửi tại bãi xe quán cafe số 53 Man Thiện, khu phố 5, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9 thì bị mất trộm vào lúc 20 giờ 30 phút cùng ngày. Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định: Xe gắn máy biển số 99G1-261.72 trị giá 13.500.000 đồng. Xe gắn máy biển số 76G1-374.67 trị giá 36.000.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 118/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 9 đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. + Xử phạt bị cáo: Lê Trường G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2019. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với Mai Huy C1, xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 22/11/2019, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, mức hình phạt đã tuyên là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, có đủ cơ sở xác định: Để có tiền tiêu xài, bị cáo Lê Trường G mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng đã tham gia vận chuyển tài sản đã bị chiếm đoạt trái pháp luật là xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 99G1-261.72 trị giá 13.500.000 đồng cho đối tượng tên Phi để hưởng tiền công. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản" là xét xử đúng người, đúng tội. Xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng.

Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội xâm phạm sở hữu chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở xem xét giảm mức hình phạt đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê!Trường!G. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo: Lê! Trường! G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2019.

Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:"

"TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

- TAND Tối Cao;

(1)

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- TAND Cấp Cao tại Tp. HCM

(1)

- VKSND Tp.HCM;

(3)

- VKSND Quận 9;

(1)

- Chi cục THA Quận 9;

(1)

- TAND Quận 9;

(2)

- Công an Quận 9;

(1)

- Phòng PC 53 - CA Tp. HCM;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- Sở Tư pháp;

(1)

Nguyễn!Thị!!Thanh!Bình

- UBND nơi bị cáo cư trú;

(1)

- Lưu, hình sự, hồ sơ. (18)

(4)

Cỡ chữ