vanban.org

Bản án 79/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm v án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q.

Chấp nhận một phần kháng cáo của đ i diện hợp pháp bị h i bà Trần Thị H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D về trách nhiệm dân sự như sau: 1 Áp d ng khoản 3 Điều 104 điểm n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm v án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2020/HS-PT
Ngày: 15/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang;

Thẩm phán thành viên: Ông Cao Huy Cường;

Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 208/2019/TLPT-HS ngày 19/11/2019 đối với các bị cáo Nguyễn Văn N cùng đồng ph m. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q; kháng cáo của đ i diện hợp pháp của bị h i bà Trần Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố(nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn N sinh năm 1992, t i tỉnh hú Th ; thường trú: Khu 10, xã X huyện L tỉnh hú Th ; chỗ : Số 624/46 tổ 16 khu phố P, phường B, thành phố D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ h c vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T sinh năm 1971 và bà hùng Thị T sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không; bắt t m giữ và t m giam từ ngày 29/11/2014 đến ngày 25/12/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo t i ngo i có mặt.

2. Lê Văn H sinh năm 1988, t i tỉnh Trà Vinh; thường trú: Ấp P1, xã B, huyện C tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị sinh năm 1965; có vợ tên Vũ Thị Kiều T, sinh năm 1988; tiền án tiền sự: Không; bắt t m giữ và t m giam từ ngày 25/11/2014 đến ngày 25/12/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo t i ngo i có mặt.

3. Huỳnh Văn Q sinh năm 1991 t i tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Khu 2 xã P huyện X tỉnh Sóc Trăng; chỗ : Khu phố 3 phường L, thành phố E tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 3/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh M, sinh năm 1954 và bà Đào Thị Na G sinh năm 1956; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 29/9/2014 bị Công an thành phố E tỉnh Bình Dương kh i tố về tội “Cố ý gây thương tích” sau đó bị h i rút yêu cầu kh i tố. Ngày 22/10/2014 Cơ quan điều tra công an thành phố E tỉnh Bình Dương đình chỉ điều tra đối với Huỳnh Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 28/11/2014 ra quyết định xử ph t hành chính với số tiền 2.500.000 đồng. Bị cáo đầu thú ngày 25/11/2014 bị t m giữ và bắt t m giam cho đến nay có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H: Ông Nguyễn Viết G- Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư A thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.

- Bị hại: Ông Vũ Xuân D sinh năm: 1985 (chết).

Đ i diện hợp pháp của bị h i:

1. Ông Vũ Ng c H, sinh năm 1954;

2. Bà Đỗ Thị B sinh năm 1951;

Cùng trú t i: Xóm 1, xã T huyện K tỉnh Ninh Bình;

Ông Vũ Ng c H bà Đỗ Thị B ủy quyền cho bà Trần Thị H tham gia tố t ng.

3. Bà Trần Thị H sinh năm 1984 (vợ bị h i Vũ Xuân D)

Trú t i: Xóm 1 xã T huyện K tỉnh Ninh Bình;

4. Cháu Vũ hương T, sinh ngày 20/9/2012; cháu Vũ Gia H, sinh ngày 20/3/2011 cùng trú t i: Xóm 1 xã T huyện K tỉnh Ninh Bình. Đ i diện hợp pháp của hai cháu Vũ Gia H, Vũ hương T là bà Trần Thị H sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm 1, xã T huyện K tỉnh Ninh Bình.

Bà Hòa vắng mặt t i phiên tòa.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Nguyễn Hoài N- Luật sư Công ty TNHH D thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn Q- Luật sư Công ty Luật TNHH Hãng luật H thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội có mặt.

Người làm chứng:

Lầu Sú H sinh năm 1989 (vắng mặt).

Ngoài ra bản án còn có người có quyền lợi nghĩa v liên quan người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Lầu Sú H là công nhân của Công ty xe đ p B(địa chỉ: Khu phố C phường H, thành phố D tỉnh Bình Dương) quen biết với Huỳnh Văn Q, Nguyễn Văn N. Huỳnh Văn Q Nguyễn Văn N vào làm t i Công ty xe đ p B nhưng chỉ được 01 ngày thì Huỳnh Văn Q Nguyễn Văn N nghỉ việc vì công việc không phù hợp. Ngày 18/11/2014 Lầu Sú H nghe tin ông Vũ Xuân D làm quản lý xư ng hàn t i Công ty xe đ p B chuẩn bị đuổi việc công nhân mới tuyển, trong đó có em của Nguyễn Văn N là Nguyễn Văn D. Ngoài ra trong quá trình làm việc Lầu Sú H cũng có mâu thuẫn với Nguyễn Văn D, nên khoảng 11 giờ ngày 22/11/2014 Lầu Sú H nói cho Nguyễn Văn N biết để Nguyễn Văn N gặp Nguyễn Văn D nói chuyện với Nguyễn Văn D.

Khoảng 15 giờ cùng ngày Huỳnh Văn Q Nguyễn Văn N cùng Lê Văn H và Nguyễn Đình K(b n của Huỳnh Văn Q Nguyễn Văn N) đang đánh bi da t i khu phố C phường H, thành phố D, thì Lầu Sú H điện tho i nói với Nguyễn Văn N là chiều nay Công ty không tăng ca và nói Nguyễn Văn N đến trước cổng Công ty xe đ p B gặp Lầu Sú H. Nghe xong, Nguyễn Văn N rủ Huỳnh Văn Q và Lê Văn H đi cùng đến cổng Công ty xe đ p B có công chuyện. Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô Wave mang biển số 61L1-4666 của Nguyễn Văn N ch Lê Văn H còn Huỳnh Văn Q nhờ Nguyễn Đình K điều khiển xe mô tô Vespa mang biển số 63B2-41441 của Nguyễn Đình K ch Huỳnh Văn Q theo sau, đến trước cổng Công ty xe đ p M. Khoảng 16 giờ cùng ngày, công nhân của Công ty xe đ p B tan ca, Lầu Sú H từ trong Công ty đi đến chỗ Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q và Lê Văn H đang đứng và chỉ vào Vũ Xuân D đang điều khiển xe mô tô từ cổng Công ty ra về. Huỳnh Văn Q điều khiển xe mô tô ch Nguyễn Văn N đuổi theo Vũ Xuân D, còn Lê Văn H thì đi bộ theo sau, Nguyễn Đình K thấy vậy đi xe theo sau. Đi khoảng 100m, Huỳnh Văn Q và Nguyễn Văn N đuổi kịp Vũ Xuân D. Huỳnh Văn Q ép xe Vũ Xuân D vào lề đường Nguyên bước xuống xe nói với Vũ Xuân D “mày l i đây nói chuyện với tao một chút” Vũ Xuân D xuống xe trả lời “tao không có chuyện gì nói với chúng mày” đồng thời Dương xông vào dùng tay đánh vào người Nguyễn Văn N một cái nhưng không trúng. Thấy Vũ Xuân D đánh Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q xông vào nắm cổ áo của Vũ Xuân D, Nguyễn Văn N dùng tay đánh vào người Vũ Xuân D, Vũ Xuân D lùi l i phía sau, Huỳnh Văn Q nắm đầu Vũ Xuân D kéo xuống. Nguyên đá vào cổ Vũ Xuân D một cái Lê Văn H đi bộ đến cũng xông vào dùng tay đánh vào người Vũ Xuân D. Huỳnh Văn Q dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu Vũ Xuân D và dùng đầu gối thúc một cái vào vùng ngực của Vũ Xuân D và xô làm Vũ Xuân D té ngửa ra giữa đường ngất xỉu. Sau đó, Nguyễn Văn N dùng xe mô tô ch Huỳnh Văn Q và Lê Văn H bỏ đi. Vũ Xuân D được m i người đưa đi cấp cứu t i bệnh viện R Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã tử vong vào ngày 24/11/2014.

Khi Nguyên, Huỳnh Văn Q và Lê Văn H đánh vào Vũ Xuân D thì Nguyễn Đình K dừng xe bên lề đường cách 10 mét chứng kiến sự việc Nguyễn Đình K bỏ về không tham gia đánh Vũ Xuân D.

Bản Kết luận giám định pháp y số 139/GĐ Y, ngày 10/02/2015 của hòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Vũ Xuân D là do tác động ngo i lực của vật tày cứng vào vùng đầu phải gây chấn thương s não xuất huyết não dập não.

Ngày 25/11/2014 Lê Văn H ra đầu thú.

Bản kết luận giám định tâm thần số 416/KL-V YTW ngày 12/10/2016 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận đối với Huỳnh Văn Q:

Về y h c: Trước và sau khi gây án: Đương sự bị bệnh rối lo n nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8-ICD.10); hiện nay: Đương sự chưa đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Ngày 17/10/2016 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương ra quyết định bắt buộc chữa bệnh với với Huỳnh Văn Q và cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bình Dương ra quyết định t m đình chỉ điều tra bị can đối với Huỳnh Văn Q để đưa đi điều trị bắt buộc t i Viện háp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa.

Bản Kết luận giám định tâm thần số 226/KL-V YTW ngày 27/5/2017 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa kết luận đối với Huỳnh Văn Q, kết luận:

+ Bị bệnh rối lo n sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/rối lo n nhân cách và hành vi thực tổn (F43.22/F07.8-ICD.10).

+ Hiện t i bệnh đã ổn định không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Ngày 23/01/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương có công văn số 123/CV- C45 gửi hòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương về việc xác định thương tích và cơ chế hình thành thương tích của bị h i Vũ Xuân D: Xác định rõ các chấn thương vùng đầu của bị h i (có bao nhiêu đường nứt xương hộp s ) trong đó vùng chấn thương nào gây nên tử vong cho bị h i? Xác định cơ chế hình thành nên thương tích dẫn đến chấn thương s não của bị h i việc bị h i bị xô ngã xuống đường gây ra thương tích nêu trên hay không hay do bị cáo Huỳnh Văn Q dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu gây nên.

Ngày 26/01/2018 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Công văn số 27/CV- C45 gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương xác định thương tích và cơ chế hình thành thương tích đối với bị h i Vũ Xuân D, như sau: Trên xương hộp s của n n nhân Vũ Xuân D có hai đường nứt trong đó: Đường nứt xương hộp s bên trong từ chẩm lên đỉnh (01); Đường nứt h đường ráp xương hộp s (02). Bên ngoài da đầu vùng chẩm trái có khối u t máu KT: (12x10)cm tâm khối u xây sát da KT: (5x04)cm gây t máu dưới da và cơ vùng đầu chẩm KT: (25x13)cm (03). Vết nứt xương hộp s (ký hiệu 01 02) tương ứng phù hợp với khối u t máu tâm sây sát da bên ngoài (ký hiệu số 03). Như vậy vùng chẩm đỉnh trái là vùng chấn thương nặng có khối u t máu, tâm sây sát da, t dưới da cơ nứt xương hộp s xuất huyết não dập não tương ứng bên trong dẫn tới tử vong cho bị h i. Cơ chế hình thành thương tích dẫn đến chấn thương s não của bị h i Vũ Xuân D là: Do đầu n n nhân (vùng chẩm đỉnh) va đập vào mặt phẳng cứng có bề mặt thô nhám (như mặt đường nhựa đường bê tông…) gây khối u t máu tâm khối u xây sát da (diện sây sát da không đều) bầm t máu dưới da cơ vỡ xương s xuất huyết não dập não làm tăng áp lực nội s dẫn đến nứt rỉ máu đường ráp xương hộp s (vết 01 02); khả năng đầu n n nhân va đập xuống mặt đường tr ng thái té ngã ngửa hoặc nghiêng trái. Nón bảo hiểm không thể gây thương tích trên.

V án được chuyển cho Tòa án nhân dân thành phốD tỉnh Bình Dương th lý giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 25/9/2018 và 05/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố D Quyết định đưa v án ra xét xử bị cáo Huỳnh Văn Q không đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử do đó Hội đồng xét xử quyết định trưng cầu giám định đối với bị cáo Huỳnh Văn Q có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật hay phải áp d ng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 72/KL-VPYTW ngày 29/01/2019 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa: Huỳnh Văn Q mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Quyết định điều trị bắt buộc số 01/2019/QĐ-TA ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố D bị cáo Huỳnh Văn Q điều trị t i Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa thời gian 05 tháng 09 ngày kể từ ngày 31/01/2019. T i kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 444/KLBB-V YTW ngày 12/8/2019 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa: Huỳnh Văn Q có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Vật chứng t m giữ trong v án: 01 xe mô tô Wave Trung Quốc mang biển số 61L1-4666 màu đỏ số máy VTH 152-6003772 số khung RNAWCHDNA-61003772. Qua xác minh xe mô tô trên là của bà Lê Thị ; bà Lê Thị xác định không đứng tên chủ s hữu xe mô tô nêu trên. Nguyễn Văn N khai nhận xe mô tô Wave Trung Quốc mang biển số 61L1-4666 màu đỏ Nguyễn Văn N mua của một người không rõ h tên địa chỉ và không có giấy đăng ký xe máy.

Về trách nhiệm dân sự: Đ i diện bên bị h i chị Trần Thị H(vợ của Vũ Xuân D) yêu cầu Nguyễn Văn N, Lê Văn H và Huỳnh Văn Q bồi thường chi phí điều trị thương tích mai tang tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 431.000.000 đồng; cấp dưỡng nuôi cha, mẹ ông Vũ Xuân D là 1.000.000 đồng/tháng; cấp dưỡng nuôi hai con ông Vũ Xuân D là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi 18 tuổi.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố D đã tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q và Lê Văn H ph m tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp d ng khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Huỳnh Văn Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp d ng khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) năm tù.

- Áp d ng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) năm tù.

Trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 587, 591, 593 Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q và Lê Văn H liên đới bồi thường chi phí điều trị thương tích mai táng phí, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 186.000.000 đồng; c thể: chi phí hợp lý cho việc cứu chữa người bị h i 28.000.000 đồng, chi phí hợp lý cho việc mai táng người bị h i 100.000.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần của những người thân của bị h i là 60.000.000 đồng (bà Hòa, ông Vũ Ng c H, bà Đỗ Thị B là vợ và cha mẹ của bị h i Vũ Xuân D) và khoản tiền cấp dưỡng cho ông Vũ Ng c H và mẹ bà Đỗ Thị B là 1.000.000 đồng/tháng (mỗi người 500.000 đồng/tháng); cấp dưỡng nuôi hai con của ông Dương là Vũ Gia H, sinh ngày 20/3/2011 và Vũ hương T, sinh ngày 20/9/2012 với số tiền 2.000.000 đồng/tháng (mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Đối với bị cáo Nguyễn Văn N được khấu trừ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 02123 ngày 24/5/2016 của C c Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019 bị cáo Lê Văn H kháng cáo kêu oan; các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019 bà Trần Thị H là người đ i diện hợp pháp của bị h i có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ v án sơ thẩm vì xử không đúng tội danh đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q, Lê Văn H; bỏ l t tội ph m đối với Lầu Sú H và về bồi thường trách nhiệm dân sự là quá thấp.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đ i diện hợp pháp bị h i giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của các bị cáo của đ i diện hợp pháp cho bị h i còn trong thời h n luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xét xử theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo quy định t i các Điều 332 333 Bộ luật Tố t ng hình sự. Trước khi m phiên tòa các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện đúng quy định của pháp luật do vậy đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo.

Đối với kháng cáo của đ i diện hợp pháp của bị h i:

Về vấn đề bỏ l t tội ph m đối với Lầu Sú H: Quá trình điều tra cũng như t i các phiên tòa sơ phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn N cũng như Lầu Sú H đều xác định Há chỉ yêu cầu Nguyễn Văn N tìm bị h i Vũ Xuân D nói chuyện không yêu cầu hoặc đề nghị Nguyễn Văn N gây thương tích cho bị h i Vũ Xuân D. Do vậy không có căn cứ xác định Lầu Sú H có tham gia vào việc gây thương tích cho người bị h i. Kháng cáo của đ i diện hợp pháp cho bị h i là không có căn cứ chấp nhận.

Về tội danh: Các bị cáo dùng tay chân đánh bị h i xô đẩy dẫn đến bị h i bị té ngửa va đập đầu xuống đường việc này phù hợp với kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương nguyên nhân dẫn đến bị h i chết không phải do các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm (nón bảo hiểm) tấn công trực tiếp vào vùng đầu bị h i do vậy hành vi của các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp kháng cáo của đ i diện hợp pháp của bị h i không có cơ s chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với yêu cầu cấp dưỡng một lần nuôi hai con bị h i các bị cáo không đồng ý đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật để xem xét quyết định về phương thức mức cấp dưỡng cho phù hợp.

Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần tội danh và hình ph t đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại luật sư Nguyễn Văn Qtrình bày:

Quá trình điều tra và tiến hành tố t ng t i cấp sơ thẩm chưa làm rõ được bản chất v án chưa làm rõ vai trò của Lầu Sú H. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lời khai của cả 03 bị cáo trong quá trình điều tra kết luận giám định lời khai của ông Sáng để xác định rõ tội danh vai trò của Lầu Sú H.

Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bồi thường mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo bồi thường cho đ i diện hợp pháp bị h i cũng như mức cấp dưỡng nuôi con cha mẹ bị h i là không phù hợp với diễn biến chứng cứ thực tế có trong hồ sơ v án mà gia đình bị h i đã cung cấp. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của đ i diện hợp pháp bị h i buộc các bị cáo có nghĩa v bồi thường các khoản:

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa bị h i: 32.500.000 đồng; chi phí hợp lý cho việc mai táng bị h i: 138.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần: 149.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho ông Vũ Ng c H, bà Đỗ Thị B: 120.000.000 đồng (cấp dưỡng trong 10 năm); tiền cấp dưỡng hai con bị h i: 724.000.000 đồng (mỗi cháu 2.000.000đồng/tháng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Tổng cộng: 1.025.500.000 đồng.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Vũ Ng c H, bà Đỗ Thị B ( là cha mẹ của bị h i Vũ Xuân D) và bà Trần Thị H(vợ bị h i Vũ Xuân D) là người có quyền lợi nghĩa v liên quan là không đúng theo quy định t i Điều 62 Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 651 Bộ luật Dân sự. Mặc dù ông Hưng bà Bích có giấy ủy quyền cho bà Hòa tham gia tố t ng với tư cách bà Hòa là người đ i diện gia đình bị h i nhưng ông Hưng bà Bích vẫn là người đ i diện hợp pháp cho bị h i Vũ Xuân D ngoài ra bị h i Vũ Xuân D còn có hai người con chưa thành niên chưa được đưa vào tham gia tố t ng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm đ i diện hợp pháp cho người bị h i Trần Thị H(được ông Vũ Xuân H, Đỗ Thị B ủy quyền) đã kháng cáo toàn bộ bản án do vậy không ảnh hư ng nghiêm tr ng đến quyền lợi ích hợp pháp của đ i diện hợp pháp bị h i nên Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xác định l i cho phù hợp.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 16 tháng 10 năm 2019 bị cáo Lê Văn H kháng cáo kêu oan; các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t. Trước khi m phiên tòa, các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo của các các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện đúng quy định của pháp luật. Do vậy căn cứ vào Điều 348 Bộ luật Tố t ng hình sự Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo .

Người đ i diện hợp pháp cho bị h i bà Trần Thị H vắng mặt căn cứ vào Điều 351 Bộ luật Tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trần Thị H.

Về nội dung:

Khoảng 16 giờ ngày 22/11/2014 các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q, Lê Văn H có hành vi dùng tay chân nón bảo hiểm gây thương tích cho bị h i Vũ Xuân D t i khu vực khu phố C phường H, thành phố D tỉnh Bình Dương hậu quả là bị h i Vũ Xuân D bị tử vong. Quá trình điều tra xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Văn H cho rằng bị cáo bị oan bị cáo Huỳnh Văn Q bị tâm thần phải bắt buộc chữa bệnh nhiều lần. Đ i diện hợp pháp cho bị h i Dương bà Trần Thị Hcho rằng các bị cáo ph m tội giết người không phải cố ý gây thương tích như Viện kiểm sát truy tố đồng thời các cơ quan tiến hành tố t ng bỏ l t tội ph m đối với đối tượng Lầu Sú H.

Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai ban đầu của các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Văn N và Huỳnh Văn Q (t i các biên bản tự thú đầu thú) đều thừa nhận có dùng tay chân nón bảo hiểm (của chính bị h i Vũ Xuân D) để đánh Vũ Xuân D xô đẩy dẫn đến Vũ Xuân D ngã đập đầu xuống đường nhựa trong đó xác định bị cáo Huỳnh Văn Q là người tước nón bảo hiểm của bị h i và có dùng nón bảo hiểm đánh bị h i nhưng không xác định được điểm trúng là vùng nào trên cơ thể Vũ Xuân D. Bản Kết luận giám định pháp y số 139/GĐ Y, ngày 10/02/2015 của hòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Vũ Xuân D là do tác động ngo i lực của vật tày cứng vào vùng đầu phải gây chấn thương s não xuất huyết não dập não. Công văn số 27/CV-PC45 ngày 26/01/2018 Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định cơ chế hình thành thương tích đối với bị h i Vũ Xuân D là do đầu n n nhân (vùng chẩm đỉnh) va đập vào mặt phẳng cứng có bề mặt thô nhám (như mặt đường nhựa đường bê tông…) gây khối u t máu tâm khối u xây sát da (diện sây sát da không đều) bầm t máu dưới da cơ vỡ xương s xuất huyết não dập não làm tăng áp lực nội s dẫn đến nứt rỉ máu đường ráp xương hộp s , khả năng đầu n n nhân va đập xuống mặt đường tr ng thái té ngã ngửa hoặc nghiêng trái nón bảo hiểm không thể gây thương tích trên. Kết luận nguyên nhân chết và cơ chế hình thành vết thương phù hợp với lời khai của các bị cáo người làm chứng đều xác định bị h i Vũ Xuân D bị xô ngã ngửa và đập đầu xuống đường. Như vậy hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q dùng tay chân nón bảo hiểm đánh xô đẩy bị h i dẫn đến bị h i bị té ngửa đầu va đập m nh xuống đường dẫn tới tử vong đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định t i khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Tòa án nhân dân thành phố D xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của đ i diện hợp pháp của bị h i Hội đồng xét xử xét thấy:

Đ i diện bị h i kháng cáo cho rằng các bị cáo có hành vi giết người là không phù hợp b i lẽ nguyên nhân dẫn tới tử vong của bị h i Dương không phải do các bị cáo sử d ng hung khí (nón bảo hiểm) tấn công trực tiếp vào vùng tr ng yếu (vùng đầu) trên cơ thể của bị h i mà nguyên nhân là do bị h i bị đánh xô đẩy nên bị h i ngã đập đầu xuống đường nhựa dẫn tới nứt s dập não tử vong. Kháng cáo của đ i diện bị h i về trách nhiệm hình sự của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Về việc cơ quan tiến hành tố t ng cấp sơ thẩm bỏ l t tội ph m là đối tượng Lầu Sú H Hồi đồng xét xử xét thấy: Hồ sơ v án thể hiện Lầu Sú H có trao đổi yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N tìm bị h i Vũ Xuân D để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn trong công việc của Lầu Sú H không trao đổi hay yêu cầu Nguyễn Văn N gây thương tích cho Vũ Xuân D (việc trao đổi này có Đường Thượng Hcùng nghe). Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo. Nguyễn Văn N trong quá trình điều tra và t i phiên tòa: Lầu Sú H không yêu cầu Nguyễn Văn N đánh Vũ Xuân D mà chỉ yêu cầu tìm Vũ Xuân D nói chuyện tuy nhiên do Dương không đồng ý nói chuyện và tấn công đánh Nguyễn Văn N trước nên Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q mới đánh bị h i. Do vậy không đủ căn cứ để xác định Lầu Sú H đồng ph m với Nguyên trong việc gây thương tích cho bị h i Vũ Xuân D. Hiện t i Lầu Sú H cũng không còn sinh sống t i địa phương Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết theo quy định nên việc xét xử vắng mặt người làm chứng là phù hợp. Kháng cáo của đ i diện bị h i là không có căn cứ.

Đối với kháng cáo của về vấn đề bồi thường dân sự và cấp dưỡng: Đ i diện hợp pháp bị h i yêu cầu các bị cáo cò nghĩa v bồi thường: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa bị h i: 32.500.000 đồng; chi phí hợp lý cho việc mai táng bị h i: 138.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần: 149.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho ông Vũ Ng c H, bà Đỗ Thị B: 120.000.000 đồng (cấp dưỡng trong 10 năm); tiền cấp dưỡng nuôi hai con bị h i: 724.000.000 đồng (mỗi cháu 2.000.000đồng/tháng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Tổng cộng: 1.025.500.000 đồng

Hồi đồng xét xử xét thấy: Theo quy định t i các Điều 584 586 và Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp thiệt h i do tính m ng bị xâm ph m thì sẽ được bồi thường gồm các chi phí cho việc cứu chữa chi phí hợp lý cho việc mai táng khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do tính m ng bị xâm ph m. tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt h i có nghĩa v cấp dưỡng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ (hóa đơn, chứng từ) do đ i diện bị h i cung cấp cũng như những chi phí hợp lý cho việc mai táng do đó có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của đ i diện hợp pháp bị h i về chi phí cấp cứu: 28.000.000 đồng chi phí mai táng 138.000.000 đồng. Tổng cộng 166.000.000 đồng.

Đối với nghĩa v cấp dưỡng nuôi cha mẹ bị h i do các bên không thỏa thuận được mức cấp dưỡng phương thức cấp dưỡng theo quy định các Điều 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình căn cứ theo biên bản xác minh bị h i Vũ Xuân D khi còn sống hàng tháng có cấp dưỡng nuôi cha mẹ mỗi tháng 1.000.000 đồng, nên không có căn cứ buộc các bị cáo có nghĩa v cấp dưỡng với số tiền cao hơn tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo có nghĩa v cấp dưỡng cha mẹ bị h i 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp.

Đối với nghĩa v cấp dưỡng nuôi hai người con bị h i: Do các bên không thỏa thuận được mức cấp dưỡng phương thức cấp dưỡng theo quy định các Điều 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa v cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng để quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng là phù hợp. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng đối với hai cháu là chưa phù hợp với nhu cầu sinh ho t thiết yếu của các cháu Thảo, Hiếu.

Đối với khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần: Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do tính m ng bị xâm ph m tối đa không quá 100 lần mức lương cơ s do Nhà nước quy định t i thời điểm giải quyết bồi thường như vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo liên đới bồi thường tiền tổn thất tinh thần 60.000.000 đồng là chưa phù hợp.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của đ i diện bị h i về trách nhiệm dân sự.

Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí phúc thẩm: Các bị cáo không phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b đ khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm v án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q.

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của đ i diện hợp pháp bị h i bà Trần Thị H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 318/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D về trách nhiệm dân sự như sau:

2.1 Áp d ng khoản 3 Điều 104 điểm n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử ph t:

Bị cáo Huỳnh Văn Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 25/11/2014.

2.2 Áp d ng khoản 3 Điều 104 điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử ph t:

Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ, t m giam từ ngày 29/11/2014 đến ngày 25/12/2016.

2.3 Áp d ng khoản 3 Điều 104 điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử ph t:

Bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian t m giam từ ngày 25/11/2014 đến ngày 25/12/2016.

2.4 Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều 584 586 và 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tuyên:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q có nghĩa v liên đới bồi thường cho người đ i diện hợp pháp của bị h i Vũ Xuân D ((gồm ông Vũ Ng c H, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị H, cháu Vũ hương T, cháu Vũ Gia H (người đ i diện hợp pháp cho cháu Thảo Hiếu là bà Trần Thị H)) số tiền chi phí cấp cứu mai táng 166.000.000 đồng tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 149.000.000 đồng. Tổng cộng 315.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 30.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 02123 ngày 25/4/2016 của C c Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương. Các bị cáo tiếp t c liên đới bồi thường số tiền còn l i là 285.000.000 đồng.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Nguyên, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q có nghĩa v liên đới cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Gia H, sinh ngày 20/3/2011 và Vũ hương T, sinh ngày 20/9/2012 với số tiền 3.000.000 đồng/tháng (mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng) từ ngày 24/11/2014 cho đến khi các cháu Hiếu, Thảo đủ 18 tuổi. Giao số tiền nói trên cho bà Trần Thị Hlà người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hiếu, Thảo quản lý.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q có nghĩa v liên đới cấp dưỡng nuôi ông Vũ Ng c H, bà Đỗ Thị B với số tiền 1.000.000 đồng/tháng (mỗi người 500.000đồng/tháng) từ ngày 24/11/2014 đến khi ông Hưng, bà Bích chết.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

2.5. Án phí sơ thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Văn H, Huỳnh Văn Q liên đới nộp 14.550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Án phí phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn Q, Lê Văn H không phải nộp.

4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ