vanban.org

Bản án 79/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 20/05/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Anh Th.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh. Về nuôi con chung, tài sản chung: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Anh Th.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2020/HNGĐ-ST
Ngày 20-5-2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim San;

Ông Trần Đăng Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Anh Th; nơi cư trú: Số 14 đường Đình Đ, phường Đông H, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Kishida Sh; nơi cư trú: Nhật Bản; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Đặng Thị Anh Th trình bày:

Chị và anh Kishida Sh thông qua tìm hiểu tự nguyện đã đi đến kết hôn, khi kết hôn có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 04 tháng 3 năm 2016. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó anh Kishida Sh quay trở về Nhật Bản. Do khoảng cách địa lý xa nhau nên tình cảm vợ chồng càng ngày càng phai nhạt, đồng thời cũng do sự khác biệt về văn hóa cũng như sự chênh lệch về tuổi tác nên giữa hai vợ chồng không có sự chia sẻ, những cuộc điện thoại liên lạc giữa hai vợ chồng chị ngày càng thưa dần cho đến đầu năm 2019 thì giữa chị và anh Kishida Sh không còn liên lạc với nhau về vấn đề tình cảm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kishida Sh.

- Về nuôi con chung, tài sản chung: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh không có con chung, tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong đơn xin ly hôn gửi Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, bị đơn là anh Kishida Sh trình bày:

Anh thống nhất với chị Đặng Thị Anh Th về quan hệ hôn nhân: quá trình kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn, đã từ lâu giữa hai vợ chồng không liên lạc với nhau về vấn đề tình cảm, cả hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng không tìm được tiếng nói chung. Anh Kishida Sh cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đặng Thị Anh Th. Anh Kishida Sh và chị Đặng Thị Anh Th không có con chung, tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh Kishida Sh đang ở nước ngoài không yêu cầu hòa giải nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh đều vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, lời khai của các đương sự có trong hồ sơ vụ án, nhận định của Tòa án:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 04 tháng 3 năm 2016, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp. Anh Kishida Sh hiện đang sinh sống ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Đặng Thị Anh Th đã nhận được các văn bản của Tòa án hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt do có công việc đột xuất. Anh Kishida Sh đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Đặng Thị Anh Th nhận văn bản tố tụng của Tòa án thay anh, tài liệu của anh đa đượ̃

c cơ quan có thẩm quyền chứ ng nhâ ̣n. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu do các đương sự cung cấp phù hợp với ý kiến của đại diện gia đình, có đủ cơ sở xác định, quá trình chung sống giữa chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do khoảng cách địa lý xa nhau nên tình cảm vợ chồng càng ngày càng phai nhạt, đồng thời cũng do sự khác biệt về văn hóa cũng như sự chênh lệch về tuổi tác nên giữa hai vợ chồng không có sự chia sẻ, từ đầu năm 2019 đến nay giữa chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh không còn liên lạc với nhau, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng đề nghị được ly hôn . Xét, quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh đã thực sự không còn yêu thương nhau, không cùng nhau xây dựng cuô ̣c sống gia đinh ha ̣nh phúc , cả hai đã có cuộc sống

̀

riêng không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy mâu thuẫn giữa chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài , cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận đề nghi ̣ xin ly hôn của chị Đặng Thị Anh Th, cho chị Đặng Thị Anh Th ly hôn anh Kishida Sh là có căn cứ.

Về nuôi con chung, tài sản chung: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đặng Thị Anh Th là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Anh Th.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh.

2. Về nuôi con chung, tài sản chung: Chị Đặng Thị Anh Th và anh Kishida Sh không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị Anh Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin

̀ đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi đa nô ̣̃ p là

́ 300.000 đồng theo Biên lai số 0008532 ngày 19 tháng 3 năm 2020 tại Cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; chị Đặng Thị Anh Th đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Đặng Thị Anh Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Kishida Sh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ