- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P M TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2020/HNGĐ-ST Ngày: 23-3-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P M, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tiến Dũng.
2. Ông Nguyễn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tiến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P M, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P M, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P M, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Trường Anh T, sinh năm 1987; cư trú tại thôn V T T, xã MP, huyện P M, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1988; cư trú tại thôn VT, xã M P, huyện P M, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 12 năm 2019, tại lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Trường Anh T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn M chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2005 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Thời gian đầu, giữa chị và anh Nguyễn Văn M sống chung với nhau hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì nhưng từ năm 2012 đến nay, chị và anh Nguyễn Văn M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh Nguyễn Văn M thay đổi tính tình; chị và anh Nguyễn Văn M luôn bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống. Vì mâu thuẫn trên và tình cảm giữa chị và anh Nguyễn Văn M không thể hàn gắn được; chị và anh Nguyễn Văn M không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
Trong thời gian chung sống chị và anh Nguyễn Văn M có 02 người con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2006 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010; hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Gia K. Chị yêu cầu Tòa án giao hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung. Hiện nay chị và anh Nguyễn Văn M không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản đối với ai khác nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện P M, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Văn Mười tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Văn M cũng không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng; giao con chung của chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2006 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 cho chị Đặng Trường Anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị Đặng Trường Anh T không yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Đặng Trường Anh T không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản; anh Nguyễn Văn M cũng không có ý kiến, yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay anh Nguyễn Văn M cư trú thôn V T, xã M P, huyện P M, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P M, tỉnh Bình Định.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn M.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2005 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M sống chung với nhau hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì nhưng thời gian từ năm 2012 đến nay, giữa chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh Nguyễn Văn M thay đổi tính tình; chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M luôn bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống. Chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M không còn chung sống với nhau từ năm 2012 đến nay. Vì mâu thuẫn trên và tình cảm giữa chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M không thể hàn gắn được. Nay chị Đặng Trường Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Đặng Trường Anh Thư và anh Nguyễn Văn M chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2005 cho đến nay nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó theo quy định tại Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét không công nhận chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M có 02 người con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2006 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010. Chị Đặng Trường Anh T yêu cầu Tòa án giao hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Đặng Trường Anh T là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Gia K; anh Nguyễn Văn M không ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Đặng Trường Anh T. Cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Gia K đều có nguyện vọng ở với chị Đặng Trường Anh T. Để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Gia K, giao cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Gia K cho chị Đặng Trường Anh T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Đặng Trường Anh T không yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh Nguyễn Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Nguyễn Văn M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Đặng Trường Anh T. Khi cần thiết anh Nguyễn Văn M và chị Đặng Trường Anh T đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung: Chị Đặng Trường Anh T không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Nguyễn Văn M không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại thời điểm chị Đặng Trường Anh T nộp đơn khởi kiện thì chị Đặng Trường Anh T thuộc hộ nghèo, cận nghèo nhưng hiện nay không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh chị Đặng Trường Anh T thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Chị Đặng Trường Anh T không yêu cầu miễn, giảm án phí. Do đó theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chị Đặng Trường Anh T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Đặng Trường Anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0001004 ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P M, tỉnh Bình Định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng.
2. Về con chung:
Giao con chung của chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2006 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 cho chị Đặng Trường Anh T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; hiện nay chị Đặng Trường Anh T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Gia K. Chị Đặng Trường Anh T không yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Anh Nguyễn Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Nguyễn Văn M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Đặng Trường Anh T. Khi cần thiết chị Đặng Trường Anh T và anh Nguyễn Văn M đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung: Chị Đặng Trường Anh T không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Nguyễn Văn M không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Đặng Trường Anh T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Đặng Trường Anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0001004 ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P M, tỉnh Bình Định.
5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 23 tháng 3 năm 2020). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện P M,
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện P M, tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân dân xã M P, huyện P M, tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Văn Công Minh
- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ,
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân dân xã Mỹ Chánh Tây, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Văn Công Minh
- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ,
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân dân xã Mỹ Chánh Tây, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Văn Công Minh
- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; - Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Minh |