- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2019/HS-ST Ngày : 12/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Nguyễn Văn Định
Bà Phan Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa
: Bà Hoàng Thị Huế -
là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:
Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung T sinh năm: 1997 tại TP HCM; Hộ khẩu thường trú: 63 NTH, Phường 5, quận BT, TP HCM; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H và bà Lê Ngọc T1; chưa có vợ con; tiền án: 01. Bản án số 202/2016/HSST ngày 16/11/2016 của Tòa án nhân dân quận BT xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; tiền sự: không; nhân thân: bản án số 671/2013/HSPT ngày 21/9/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Bị bắt giữ ngày 25/6/2019; tạm giữ ngày 25/6/2019; tạm giam ngày 04/7/2019 tại Nhà tạm giữ Công an quận Phú Nhuận (có mặt).
- Người bị hại: Bà Trần Thị Kim C, sinh năm: 1998
Thường trú: ấp 5, xã VX, huyện TC, tỉnh AG.
Nơi ở hiện nay: 528/17/1 khu phố 2, phường TB, quận TĐ, TP HCM (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 4 giờ 00 phút ngày 23/6/2019, Nguyễn Trung T chơi game bắn cá ở địa chỉ số 120 Bạch Đằng, Phường 2, quận Tân Bình, TP HCM thì có đối tượng tên Tú (không rõ lai lịch) cũng đang ngồi chơi game. Tú rủ T đi lòng vòng xem ai có tài sản sơ hở thì lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài, T đồng ý. Đến 9 giờ 10 phút cùng ngày, Tú lấy xe hiệu Honda Click màu đỏ (không rõ biển số) chở T đi trên đường Hồ Văn Huê, quận Phú Nhuận, TP HCM. Khi cả hai chạy đến trước cửa hàng áo cưới ở địa chỉ số 43K Hồ Văn Huê, Phường 9, quận Phú Nhuận thì Tú nhìn thấy trước cửa hàng có dựng 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision có cắm sẵn chìa khóa nên Tú kêu T đi xuống lấy. T đi bộ lại lấy xe và nổ máy chạy đi. Tú chạy xe theo phía sau T, cả hai chạy đến tiệm rửa xe trên đường Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh rửa xe và để xe vừa trộm được tại đây rồi tiếp tục đi chơi game bắn cá. Đến khoảng 10 giờ ngày 24/6/2019, Tú chở T đến tiệm rửa xe để lấy xe, khi cả hai đi đến trước nhà số 630 Điện Biên Phủ, Phường 22, quận Bình Thạnh, TP HCM thì tiếp tục thực hiện vụ cướp giật điện thoại di động rồi mới đi lấy xe. Sau khi lấy xe cả hai đi tìm chỗ bán, khi đang trên đường đi thì bị Công an quận Bình Thạnh nghi vấn yêu cầu dừng xe để kiểm tra, Tú thấy vậy điều khiển xe máy của Tú bỏ chạy trốn thoát.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, T khai nhận cùng Tú thực hiện hành vi phạm tội trên.
Do hành vi trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn quận Phú Nhuận, TP HCM nên cơ quan Công an quận Bình Thạnh, TP HCM đã chuyển vụ án trộm cắp tài sản cho Công an quận Phú Nhuận để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng của vụ án:
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 67H1-413.02, số máy: JF66E0654211, số khung: RLHJF5815GY654159;
- 01 giấy đăng ký xe biển số 67H1-413.02 mang tên Trần Thị Kim C;
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 giấy CMND đều mang tên Trần Thị Kim C;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh - đen đã qua sử dụng;
- 01 USB ghi hình ảnh vụ trộm.
Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận ngày 27/6/2019 thì 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu đen đỏ, biển số 67H1-413.02 có giá trị 22.500.000 (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSPN ngày 07/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và tranh luận: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau. Bị cáo T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản có giá trị 22.500.000 (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về xử lý vật chứng: đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 67H1-413.02, 01 giấy đăng ký xe, 01 CMND và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Trần Thị Kim C: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà C, bà C đã nhận lại xe cùng các giấy tờ tùy thân và không có ý kiến gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh - đen đã qua sử dụng bị cáo có sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị sung quỹ nhà nước. Đối với 01 USB cần lưu vào hồ sơ vụ án.
- Bị cáo Nguyễn Trung T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản bắt người, biên bản xác định địa điểm, biên bản ghi nhận sự việc, bản ảnh hiện trường, trích xuất hình ảnh từ camera, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận của hội đồng định giá cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận: lợi dụng sự sơ hở của người bị hại, bị cáo T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 23/6/2019 tại trước căn nhà số 43K Hồ Văn Huê, Phường 9, quận Phú Nhuận, TP HCM. Giá trị tài sản mà bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp là 22.500.000 (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng. Do đó, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xét xử nghiêm bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có 01 tiền án về tội cướp giật tài sản đến nay chưa được xóa án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, năm 2013 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội Cướp tài sản. Bị cáo không coi đây là những bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, điều đó cho thấy bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng trong vụ án:
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 67H1-413.02, 01 giấy đăng ký xe, 01 CMND và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Trần Thị Kim C: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà C, bà C đã nhận lại xe cùng các giấy tờ tùy thân và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh - đen đã qua sử dụng: bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội nên cần sung quỹ nhà nước.
- 01 USB ghi hình ảnh vụ trộm cần lưu vào hồ sơ vụ án.
. Đối với đối tượng tên Tú do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ, có cơ sở xử lý sau.
Đối với hành vi cướp giật điện thoại di động ở trên địa bàn quận Bình Thạnh, cơ quan Công an quận Bình Thạnh đang kiểm tra, xác minh và đến nay chưa khởi tố vụ án. Do đó, nếu đủ căn cứ sẽ xem xét thành một vụ án khác.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2019.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh - đen đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).
Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh vụ trộm.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP HCM; - VKSND quận Phú Nhuận; - Điều tra Tổng hợp CAQPN; - Chi cục THADS QPN; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP HCM; - Người tham gia tố tụng khác; - Bị cáo; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ, VP. Mai | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Dung |