vanban.org

Bản án 79/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Kim A, sinh ngày 14/6/2013 và Nguyễn Phú T, sinh ngày 16/11/2015 cho bà Trần Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi trưởng thành (18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Sau… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim T - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 29-11-2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Quỳnh Nga

2. Bà Nguyễn Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 về việc “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp N, xã H, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp N, xã H, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Kim T trình bày:

Bà T và ông Nguyễn Văn H sống chung với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 27/9/2016. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và cờ bạc, không chăm lo gia đình. Bà T nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả. Năm 2017, bà T có làm đơn ly hôn ông H nhưng sau đó bà rút đơn vì muốn cho chồng thêm cơ hội và cùng ông H nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, từ đó đến nay, ông H thường xuyên vắng nhà, không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên bà rất mệt mỏi, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn vì tình cảm hiện nay không còn.

Ông bà chung sống có 2 con chung tên Nguyễn Kim A, sinh ngày 14/6/2013 và Nguyễn Phú T, sinh ngày 16/11/2015. Hiện các con đang sống cùng bà T, bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Văn H được biết. Trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; nguyên đơn, bà Trần Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị vẫn tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu của bà Trần Thị Kim T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà T được ly hôn với ông H; Về con chung: theo nguyện vọng của con chung, đề nghị giao 02 con cho bà T nuôi dưỡng, ghi nhận việc không yêu cầu cấp dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thị Kim T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H, bị đơn đang cư trú tại thành phố Bà Rịa, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; nguyên đơn, bà Trần Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 27/9/2016 của Ủy ban nhân dân phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà T thì trong quá trình chung sống, giữa bà và ông H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, ông H đã có tình cảm với người khác, không quan tâm đến gia đình, vợ con nên cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau nên không thể duy trì cuộc hôn nhân này được nữa.

Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông H, tại thông báo có nêu rõ yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà bà T đã giao nộp cho Tòa án, đồng thời đã nhiều lần triệu tập ông H đến Tòa án để ông trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà T; cũng như thông báo để ông H tham gia các phiên hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do. Như vậy lời khai của bà T về việc gia đình mâu thuẫn, không có hạnh phúc là có cơ sở. Việc ông H không đến Tòa án để làm việc, để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đã chứng minh ông không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T, ông H có 2 con chung tên Nguyễn Kim A, sinh ngày 14/6/2013 và Nguyễn Phú T, sinh ngày 16/11/2015 đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng nên chấp nhận yêu cầu của bà T được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Kim A, sinh ngày 14/6/2013 và Nguyễn Phú T, sinh ngày 16/11/2015 cho bà Trần Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi trưởng thành (18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Kim T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số TU/2017/0009818 ngày 18/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà T đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tu ̣c phúc thẩm . Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết.

Cỡ chữ