vanban.org

Bản án 79/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 1 Điều 173; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn D phạm tội: "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Cầm Văn D 09 (ch n) tháng t nhưng cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 18 (mư i tám) tháng. Th i gian thử thách t nh t ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2018). Giao bị cáo Cầm Văn D cho ch nh quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 173; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2018/HSST
Ngày 21 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Thị Chơ Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu

Bà Trịnh Thị Thái

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2018/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 93/2018/QĐXXST-HS ngày 9 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Cầm Văn D. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 5 năm 2001, tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không.

- Bố: Cầm Văn K (đã chết). Mẹ: Hà Thị X (Hà Thị S), sinh năm 1978, trú tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.Bị cáo chưa có vợ, con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 07/12/2016 bị Công an xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La lập biên bản cảnh cáo, răn đe, giáo dục về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo hiện tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Đại diện theo pháp luật, người bào chữa cho bị cáo:

Bà Hà Thị X (Hà Thị S), sinh năm 1978 (mẹ đẻ bị cáo). Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Bà Vì Thị C, sinh năm 1946. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cầm Văn E, sinh ngày 19.11.2002. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Cầm Văn E1, sinh năm 1977 (bố đẻ), Bà Lò Thị E2, sinh năm 1977 (mẹ đẻ). Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/3/2018, Vì Thị C, sinh năm 1946, trú tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, Sơn La có đơn đề nghị về việc: bị mất số tiền 4.597.000 VNĐ cất trong chăn tại giư ng ngủ của gia đình, C xác định được Cầm Văn D, sinh năm 2001, trú tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là đối tượng trộm cắp số tiền trên và đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn điều tra làm rõ. Ngày 12/3/2018, Công an xã B, huyện Mai Sơn triệu tập D đến làm việc, tại cơ quan công an xã B, huyện Mai Sơn, D đã th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra Cầm Văn D khai nhận:

T ngày 04/3/2018 đến ngày 08/3/2018, Vì Thị C đi thăm con gái ở bản A1, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La có nh cháu ngoại là L o Văn T, sinh năm 2004 và Cầm Văn T1, sinh năm 2002 c ng trú tại bản A, đến ngủ và trông nhà cho C vì C để 4.597.000VNĐ trong túi vải trong chăn nhung màu đỏ tại giư ng ngủ của C. Tối các ngày 04, 05, 06/3/2018, T rủ D đến chơi điện tử và ngủ c ng với T tại giư ng của Vì Thị C, T1 ngủ ở giư ng cho khách. Tối ngày 07/3/2018, Cầm Văn E, sinh ngày 19/11/2002, c ng trú tại bản A đến chơi và ngủ c ng D còn T và T1 ngủ c ng nhau ở giư ng cho khách. Đến 10 gi 00 phút ngày 08/3/2018, D ngủ dậy thấy T và T1 đã đi học, E đi về nhà, D lật chăn Nhung mầu đỏ để tìm điện thoại thì thấy rơi ra 01 chiếc v b ng vải th cẩm, có dây đeo mầu đen, biết đây là v của C, D cầm lấy mở 02 ngăn kéo khóa thấy bên trong có tiền thì nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong v . Sau đó D lấy toàn bộ số tiền cho vào túi quần bên phải đang mặc rồi ném chiếc v vào trong gầm giư ng phòng khách và đi về nhà kiểm đếm số tiền lấy trộm được là 4.597.000 VNĐ. D cầm theo số tiền trộm cắp được đi sang nhà Cầm Văn E để rủ E đi mua thẻ điện thoại tại nhà Vì Văn O, sinh năm 1975, trú tại bản A2, xã B, Mai Sơn. D mua 10 thẻ viettel mệnh giá 50.000 VNĐ, D nạp điện thoại 07 thẻ và đưa cho E 03 thẻ để E nạp rồi v t hết số thẻ vào trong bếp lửa nhà E. Sau đó D rủ E đi hát Karaoke, E hỏi mày lấy tiền ở đâu ra , D trả l i Tao lấy trộm tiền của bà C , E không hỏi gì thêm. D và E đi hát ở quán Lò Thị F ở bản A3, xã B, Mai Sơn khoảng 01 gi đồng hồ, đến 11 gi 30 phút c ng ngày, D thanh toán tiến hết 230.000VNĐ. Sau đó D gọi xe taxi của B i Ngọc H, sinh năm 1984, trú tại H1, xã H2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để đi xã Mư ng Bú, huyện Mư ng La, tỉnh Sơn La thăm Hà Văn N, sinh năm 2000, c ng trú tại bản A (đang đi làm ở xã Mư ng Bú). Trong lúc ch taxi D và E ăn phở, uống nước hết 40.000VNĐ. Khoảng 13 gi 30 phút ngày 08/3/2018, H lái xe taxi đến chở D và E đến xã Mư ng Bú, huyện Mư ng La, D bảo H ch 01 gi đồng hồ rồi c ng với E đi gặp N đi ăn uống hết 177.000 VNĐ. D và E quay lại ch H và đi taxi về ngã ba bản A4, xã B, D thanh toán tiền taxi hết 1.250.000 VNĐ. Khoảng 14 gi 00 phút ngày 09/3/2018, D c ng Cầm Văn G, sinh năm 1999 (là anh trai của D) và Hà Văn N đi xe máy đến ch N làm việc, D mua xăng cho 02 xe máy hết 100.000VNĐ. Đến Mư ng Bú, cả ba ăn uống ở một quán ăn D không nhớ tên hết 1.500.000VNĐ rồi về nhà. Sáng ngày 10/3/2018, D cho G 200.000VNĐ để mua xăng tại cây xăng B, D trả nợ quán ăn cho Hà Văn J, sinh năm 1996 ở c ng bản A hết 250.000VNĐ, nộp tiền thanh niên (tiền thanh niên tự nguyện đóng góp) cho Hà Văn Q, sinh năm 1988, trú tại bản A hết 350.000VNĐ. Đến chiều ngày 10/3/2018, Hà Văn L, sinh năm 1974, trú tại bản A gọi điện cho D hỏi có trộm cắp tiền của C không, D nhận là đã trộm cắp tiền của C, L đã nói lại cho Cầm Văn G biết. Ngày 11/3/2018, Cầm Văn G đến nhà Vì Thị C để xin thỏa thuận, bồi thư ng số tiền D đã trộm cắp của C. Ngày 12/3/2018, C đã trình báo đến Công an xã B về hành vi phạm tội của D. Ngày 12/3/2018 Công an xã B triệu tập D đến làm việc tại trụ sở, D đã th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật ch ng thu gi :

+ 01 phong bì thư ch a: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO , màu đen, k m theo 02 sim của Cầm Văn D.

+ 01 phong bì thư ch a: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, mầu hồng, k m theo 01 sim của Cầm Văn E.

+ 01 túi vải th cẩm có k ch thước rồng 10cm dài 16,5cm, có dây đeo mầu đen dài 63cm, có 02 khóa b ng nhựa thu gi của Vì Thị C.

Tại bản cáo trạng số: 53/CT-VKSMS ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Cầm Văn D về tội: Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cầm Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Cầm Văn D t 09 đến 10 tháng t nhưng cho hưởng án treo. Th i gian thử thách t 18 đến 20 tháng.

Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải th cẩm có k ch thước rộng 10cm, dài 16,5cm, có dây đeo màu đen dài 63cm, có 02 khóa b ng nhựa của Vì Thị C.

Tạm gi để đảm bảo cho công tác thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, k m theo 02 sim của Cầm Văn D.

Trả lại cho ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cầm Văn E 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng, k m theo 01 sim.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Cầm Văn D đã tự nguyện bồi thư ng cho ngư i bị hại Vì Thị C t ng số tiền 4.597.000VNĐ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cầm Văn D đã trình bày đúng với nội dung bản cáo trạng số 53/CT-VKSMS ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Trong quá trình điều tra ngư i bị hại trình bày: Ngày 08/3/2018 Vì Thị C đi thăm con gái ở bản A1, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Khi Vì Thị C về nhà đã phát hiện mất số tiền 4.597.000VNĐ. Ngày 11/3/2018 Vì Thị C xác định được Cầm Văn D là ngư i trộm cắp số tài sản trên nên đã có đơn trình báo và đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La điều tra làm rõ. Ngày 12/3/2018 gia đình Cầm Văn D đã tự nguyện bồi thư ng cho Vì Thị C số tiền số tiền 4.597.000VNĐ. Vì Thị C đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu nào khác.

Bị cáo Cầm Văn D tự bào ch a: Nhất tr với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp – Ngư i bào ch a cho bị cáo Cầm Văn D trình bày: Nhất tr với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các quy định đối với ngư i dưới 18 tu i, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo Cầm Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo vì hám l i nên đã có hành vi trộm cắp tài sản. L i khai của bị cáo không có nội dung gì thay đ i, bị cáo không khai gì thêm so với l i khai của mình tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét l i khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và ph hợp với biên bản khám nghiệm hiện trư ng lập hồi 16 gi 50 phút ngày 12/3/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn, l i khai của ngư i bị hại, ngư i liên quan, ngư i làm ch ng trong quá trình điều tra và các tài liệu ch ng c của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vào ngày 08/3/2018 tại gia đình bà Vì Thị C, Cầm Văn D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình bà C với t ng giá trị là 4.597.000VNĐ. Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy, cáo trạng số 53/CT-VKSMS ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Cầm Văn D về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên là có căn c , đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở h u về tài sản của ngư i bị hại và gián tiếp gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương gây bất bình trong nhân dân.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu vì ngày 07/12/2016 bị cáo đã bị Công an xã B, huyện Mai Sơn lập biên bản cảnh cáo, răn đe, giáo dục về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trư ng hợp t nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thư ng thiệt hại cho ngư i bị hại đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Gia đình bị cáo có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo, có xác nhận của ch nh quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; Bị hại Vì Thì C cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo Cầm Văn D phạm tội khi chưa đủ 18 tu i nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét m c hình phạt đối với bị cáo.

T nh ng đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo lần đầu tiên phạm tội thuộc trư ng hợp t nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội, để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng th i răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì ngư i phạm tội còn có thể bị phạt tiền t 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy r ng bị cáo chưa đủ 18 tu i, không có công việc n định, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, không áp dụng phạt b sung đối với bị cáo là ph hợp.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 túi vải th cẩm có k ch thước rộng 10cm, dài 16,5cm, có dây đeo màu đen dài 63cm, có 02 khóa b ng nhựa của Vì Thị C. Xét thấy là đồ vật có giá trị không lớn, Vì Thị C không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, k m theo 02 sim của Cầm Văn D. Xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên tạm gi để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng, k m theo 01 sim của Cầm Văn E. Xét thấy là tài sản hợp pháp của E, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cầm Văn E.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/3/2018 gia đình bị cáo Cầm Văn D đã tự nguyện bồi thư ng cho gia đình ngư i bị hại Vì Thị C t ng số tiền 4.597.000VNĐ. Bị hại Vì Thị C đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án ph Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ là ph hợp với khoản 1, 2 Điều 99 BLTTHS, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Qốc Hội.

Về các vấn đề khác:

Đối với Cầm Văn E là ngư i biết rõ Cầm Văn D trộm cắp tài sản của Vì Thị C nhưng v n c ng tham gia tiêu sài số tiền trộm cắp (1.847.000 VNĐ). Tuy nhiên t nh đến ngày 08/3/2018, Cầm Văn E mới được 15 tu i 3 tháng 17 ngày do đó E không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do ngư i khác phạm tội mà có. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn đã xử phạt hành ch nh đối với Cầm Văn E b ng hình th c cảnh cáo.

Đối với Cầm Văn G, Hà Văn Q, Hà Văn J, Hà Văn N, Vì Văn O, Lò Thị F và B i Ngọc H là nh ng ngư i đã được nhận tiền, c ng tiêu tiền D trộm cắp mà có, quá trình điều tra xác định nh ng ngư i trên không biết nguồn gốc của số tiền là do D trộm cắp mà có. Do đó không đặt vấn đề xử lý, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn c khoản 1 Điều 173; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn D phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Cầm Văn D 09 (ch n) tháng t nhưng cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 18 (mư i tám) tháng. Th i gian thử thách t nh t ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2018). Giao bị cáo Cầm Văn D cho ch nh quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian bị cáo chấp hành hình phạt. Trư ng hợp bị cáo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong th i gian thử thách, ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

2. Về vật ch ng: Căn c khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải th cẩm có k ch thước rộng 10cm, dài 16,5cm, có dây đeo màu đen dài 63cm, có 02 khóa b ng nhựa của Vì Thị C.

Tạm gi để đảm bảo cho công tác thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, k m theo 02 sim của Cầm Văn D.

Trả lại cho ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cầm Văn E 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng, k m theo 01 sim.

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Cầm Văn D đã tự nguyện bồi thư ng cho bị hại Vì Thị C t ng số tiền 4.597.000VNĐ.

4. Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo, ngư i đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngư i đại diện hợp pháp cho ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án (ngày 21/8/2018).

Cỡ chữ