vanban.org

Bản án 79/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phạm tội: Trộ m cắ p tà i sả n.

Xử phạ t Hoàng Văn D 09 (chín) tháng tù, đượ c khấ u trừ 03 (ba) ngày tạm giữ . Bị cáo Hoàng Văn D còn phải chấp hành tiếp 08 (tám) tháng 27 (hai bả y) ngày tù. Thờ i hạ n chấ p hà nh á n đượ c tí nh từ ngà y bị cá o và o trạ i giam thụ hì nh. Xử phạ t Vì Văn L 06 (sáu) thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 79/2018/HS-ST Tuyên án 27/11/2018
Phúc thẩm Bản án 10/2019/HSPT-QĐ Tuyên án 22/03/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn D và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phạm tội: Trộ m cắ p tà i sả n.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2018/HS-ST
Ngày 27-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Sửu và ông Hoà ng Văn Cườ ng.

Thư ký phiên toà: Ông Hoà ng Văn Hả i - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễ n Phương Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 79/2018/TLST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn D, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1991 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1959 và bà Ngần Thị T, sinh năm 1956. Họ tên vợ: Lò Thị T, sinh năm 1990, có 02 con, con lớ n sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từ ng bị kế t á n, xử lý hà nh chính, xử lý kỷ luậ t. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/8/2018 đến ngày 01/9/2018. Hiện nay bị áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/9/2018 cho đến nay, bị cáo có mặt.

2. Vì Văn L, sinh năm 1994, Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiệ n nay: Bản T, xã P, huyệ n Y , tỉnh Sơn La ; nghề nghiệ p: Trồ ng trọ t; trình độ văn hoá (học vấn): lớ p 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Vì Văn C, sinh năm 1954 và bà Lò Thị K , sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từ ng bị kế t á n, xử lý hà nh chí nh , xử lý kỷ luậ t . Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/8/2018 đến ngày 01/9/2018. Hiện nay bị áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/9/2018 cho đến nay, bị cáo có mặt.

- Bị hại :

Ông Nguyễ n Hữ u H , sinh năm 1990, trú tại bản S , xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28 tháng 7 năm 2018, cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Yên Châu nhậ n đượ c đơn đề nghị của anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1990, trú tại bản S, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La với nội dung : Ngày 28/7/2018 gia đì nh anh H bị mất hai chiế c má y cắ t cỏ , nhãn hiệu HONDA, màu đỏ tại nương thuộc bản Pa Sa . Đề nghị Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, điề u tra giả i quyế t.

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã tiế n hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản là tại khu vực lán nương củ a gia đì nh Nguyễ n Hữ u H thuộ c bả n Pa Sa . Xác định nơi bị mất máy cắt cỏ thứ nhất, cách đường dân sinh bản Pa Sa là 30m; vị trí mất má y cắ t cỏ thứ hai là 10m. Hiệ n trườ ng đã bị xá o trộ n, không để lạ i dấ u vế t gì.

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, Hoàng Văn D và Vì Văn L ra đầ u thú tạ i cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Yên Châu , khai nhậ n hà nh vi phạ m tộ i củ a bản thân . Giao nộ p 02 máy cắt cỏ , nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ , số má y : GCAMT 2533463 và số máy: GCAMT 3594744, đã qua sử dụ ng.

Quá trình điều tra Hoàng Văn D và Vì Văn L khai nhậ n: Ngày 24 tháng 8 năm 2018 D làm thuê phát cỏ nương cho anh Nguyễn Hữu H và biết rằng sau mỗi ngày làm việc nên anh H thườ ng cấ t má y cắ t cỏ ở trên nương , không có ngườ i trông coi. Tố i ngà y 27 tháng 7 năm 2018 D ngồ i uố ng rượ u cù ng vớ i Vì Văn L . Trong lú c uố ng rượ u D rủ L đi trộ m má y cắ t cỏ tạ i lá n nương nhà anh H, L đồ ng ý . Khoảng 3 giờ sá ng ngà y 28 tháng 7 năm 2018 L dậ y và gọ i D đi trộ m má y cắ t cỏ . D dẫ n L đi theo con đườ ng mò n đế n nương củ a anh H, do biế t vị trí anh H cấ t má y nên D đến và lấy trong bụi cỏ ra một máy cắt cỏ đưa cho L cầ m, sau đó D đi sang bụi cỏ bên cạnh khoảng 10m lấ y thêm 01 chiế c má y cắ t cỏ khá c. D và L mỗ i ngườ i cầ m 01 máy cắt cỏ đi về theo đường cũ , đi cá ch lá n nương nhà Lò Văn T khoảng 20m thì D và L giấ u hai chiế c má y cắ t cỏ và o bụ i cây, sau đó về nhà ngủ . Đế n ngà y 30 tháng 7 năm 2018 D và L lên vị trí cấ t giấ u 02 chiế c má y cắ t cỏ , thố ng nhấ t chia nhau mỗ i ngườ i lấ y 01 chiế c má y cắ t cỏ mang về nhà giấ u để sử dụng cá nhân.

Ngày 30 tháng 8 năm 2018, cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Yên Châu ra quyế t đị nh trưng cầ u Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tiến hành định giá tài sản là : 01 chiế c má y cắ t cỏ , nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ , số máy: GCAMT 2533463; 01 máy cắt cỏ , nhãn hiệu Ho nDa, màu sơn đỏ , số má y: GCAMT 3594744.

Tại bả n kế t luậ n đị nh giá tà i sả n trong tố tụ ng hì nh sự số : 37/HĐĐG ngà y 30 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Yên Châu , tỉnh Sơn La kết luận : 01 chiế c má y cắ t cỏ , nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ , số máy: GCAMT 2533463 có giá trị 2.700.000đ (hai triệ u bả y trăm nghì n đò ng ); 01 máy cắt cỏ , nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, số má y: GCAMT 3594744 có giá trị 2.700.000đ (hai triệ u bả y trăm nghì n đồ ng ), tài sản bị chiếm đoạt ngà y 28 tháng 8 năm 2018 có tổng giá t rị cả hai máy là 5.400.000đ(Năm triệ u bố n trăm nghì n đồ ng).

Vớ i nộ i dung trên , tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSYC ngà y 16 tháng 11 năm 2018, Việ n kiể m sá t huyệ n Yên Châu đã truy tố Hoàng Văn D và Vì Văn L về tộ i “ Trộ m cắ p tà i sả n” theo khoả n 1 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự.

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Hoàng Văn D; Vì Văn L đã khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh và đồ ng phạ m đú ng như bả n cá

o trạ ng đã nêu và thừ a nhậ n bả n cá o trạ ng truy tố cá c bị cá o về tộ i Trộ m cắ p tà i sả n là đú ng ngườ i , đú ng tộ i và đú ng phá p luậ t.

Trong phầ n tranh luậ n , đạ i diệ n Việ n kiể m sá t giữ quyề n công tố tạ i phiên

toà vẫ n giữ nguyên nộ i dung bả n cá o trạ ng đã truy tố . Sau khi phân tí ch, đá nh giá tính chất, mứ c độ hà nh vi phạ m tộ i , cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ đối với các bị cáo đã đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử tuyên bố cá c bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phạm tội: Trộ m cắ p tà i sả n và á p dụ ng khoả n 1 Điề u 173; điể m i, s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58 BLHS xử phạ t:

Hoàng Văn D từ 09 (chín) tháng đến 11(mười một) tháng tù;

Vì Văn L từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung(phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản , không đề cập các bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L bồi thường gì thêm. Do vậy, phần trách nhiệm dân sự không đề cập trong vụ án.

Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu đã trả 02 máy cắt cỏ cho người bị hạ i.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 03/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án các bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát , chỉ xin Hộ i đồ ng xé t xử xem xé t cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Ngườ i bị hạ i anh Nguyễ n Hữ uH đề nghị được xét xử vắng mặt. Sự vắ ng mặ t không ả nh hưở ng đế n việ c giả i quyế t vụ á n , Hộ i đồ ng xé t xử , xét xử vắ ng mặ t vẫ n bả o đả m quyề n lợ i củ a ngườ i bị ha.̣ i

2 Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3 Hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh , như đã khai tại cơ quan điề u tra, các bị cáo lợi dụng sự sơ hở, chủ quan của chủ tài sản, cố tì nh thự c hiệ n hà nh vi trộ m cắp 02 máy cắt cỏ vào ngày 28 tháng 7 năm 2018 có giá trị cả 02 máy là 5.400.000đ (năm triệ u bố n trăm nghì n đồ ng ). Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộ m cắ p tà i sả n” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với đơn trình báo của lời khai của bị hại, phù hợp với bản kết luận giám đinh , kết luận điều tra của Công an huyện Yên Châu, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mục đích trộm cắp tài sản để mang về sử dụng.

Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi, các bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Do đó , Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu đã đưa ra cá c chứ ng cứ

buộ c tộ i và truy tố các bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”, tộ i danh và hì nh phạ t đượ c quy đị nh tạ i khoả n 1 điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự là có căn cứ và phù hợ p vớ i quy đị nh củ a phá p luậ t.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã xâm phạ m trự c tiế p tớ i quyề n sở hữ u hợ p phá p về tà i sả n của chủ sở hữu hợp pháp đượ c phá p luậ t bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo chẳng những gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo tâm lý không tốt trên đị a bà n , các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vớ i lỗ i cố ý. Do vậ y, cầ n phả i có mộ t mứ c hì nh phạ t nghiêm khắ c phù hợ p vớ i hà nh vi phạ m tộ i củ a cá c bị cá o, nhằ m giá o dụ c riêng và phò ng ngừ a chung.

Đây là vụ á n đồ ng phạ m giả n đơn , các bị cáo tuy có sự nhất trí sau khi

Hoàng Văn D khở i xướ ng, khi phạ m tộ i không có sự bà n bạ c , phân công cụ thể , cấ u kế t chặ t chẽ vớ i nhau để thự c hiệ n tộ i phạ m . Trong vụ á n nà y Hoàng Văn D là ngườ i giữ vai trò chí nh đã khở i xướ ng và trự c tiế p thự c hiệ n hành vi phạm tội còn Vì Văn L là người giữ vai trò đồng phạm giúp sức cùng Hoàng Văn D. Các bị cáo cố ý cùng nhau thực hiện tội phạm do đó các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào Điều 58 Bộ luật Hình sự xem xét tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự , thự c hiệ n hà nh vi vớ i lỗ i cố ý , xâm phạm đến lợ i í ch hợ p phá p của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó , các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệ m về toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều xuất thân từ gia đình con em lao độ ng , tuổ i đờ i cò n trẻ . Bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L đều có nhân thân tố t, chưa có tiề n á n , tiề n sự ; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy đị nh tạ i điể m i khoả n 1 điề u 51 BLHS. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy đị nh tạ i điể m s khoả n 1 Điề u 51 BLHS; sau khi phạ m tộ i bị cáo D và L đã chủ độ ng đế n cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Yên Châu đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm t ội của bản thân và đồ ng phạ m . Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Từ những tính chất, mứ c độ phạ m tộ i cũ ng như nhân thân củ a cá c bị cá o, Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết có như vậy mới có tác dụng răn đe , giáo dục và phòng ngừa chung , song khi lượ ng hì nh cũ ng cầ n xem xé t giả m nhẹ p hầ n nà o mứ c á n cho cá c bị cá o , giúp các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà ăn năn, hối cải, sửa chữa sai phạm của mình, trở thành người công dân có ích cho xã hội

3 Về hì nh phạ t bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Đối với các bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L , không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4 Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Ngày 30 tháng 8 năm 2018, anh Nguyễ n Hữ uH đã nhận được 02 máy cắt cỏ nhàn hiệuHONDA, đã kiể m tra không có hư hỏ ng gi và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.̀ Do vậy, phần trách nhiệm dân sự không đề cập trong vụ án.

5 Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 02 chiế c má y cắ t cỏ nhã n hiệ u HONDA. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễ n Hữ u H cần ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu đã trả cho chủ sở hữu.

6 Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

7 Đối với Lò Văn T 1 và Lò Văn T 2: Tố i ngà y 27 tháng 8 năm 2018 là ngườ i cù ng ngồ i uố ng rượ u vớ i D và L, trong lú c uố ng rượ u T 1 và T2 có nghe D rủ L đi trộ m má y cắ t cỏ , L đồ ng ý . Sau đó T1, T2 uố ng rượ u đế n 22 giờ cù ng ngà y thì đi về nhà ngủ , Lò Văn T1 và Lò Văn T 2 không cù ng nhau bà n bạ c vớ i Hoàng Văn D và Vì Văn L về việ c trộ m cắ p tà i sả n, không biế t D rủ L đi trộ m cắ p tà i sả n của ai, tài sản gì, ở đâu? Do đó , không đề cậ p vấ n đề xử lý đố i vớ i Lò Văn T 1 và Lò Văn T2.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phạm tội: Trộ m cắ p tà i sả n.

1. Áp dụng khoản 1 Điề u 173; điể m i, s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạ t Hoàng Văn D 09 (chín) tháng tù, đượ c khấ u trừ 03 (ba) ngày tạm giữ . Bị cáo Hoàng Văn D còn phải chấp hành tiếp 08 (tám) tháng 27 (hai bả y) ngày tù. Thờ i hạ n chấ p hà nh á n đượ c tí nh từ ngà y bị cá o và o trạ i giam thụ hì nh.

Áp dụng khoản 1 Điề u 173; điể m i, s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạ t Vì Văn L 06 (sáu) tháng tù, đượ c khấ u trừ 03 (ba) ngày tạm giữ .Bị cáo Vì Văn L còn phải chấp hành tiếp 05 (năm) tháng 27 (hai bả y) ngày tù. Thờ i hạn chấp hành án được tính từ ngày bị cáo vào trại giam thụ hình.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Ghi nhậ n ngày 31 tháng 8 năm 2018, bị hại Nguyễn HữuH đã nhậ n đượ c tà i sả n gồ m 02 máy cắ t cỏ nhã n hiệ uHONDA và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu đã giao trả cho anh Nguyễ n Hữ u H (theo biên bản về việ c trả lạ i đồ vậ t , tài liệu ngày 31/8/2018).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn D và Vì Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyề n khá ng cá o đố i vớ i bả n á n:

Án xử công khai sơ thẩ m có mặ t bị cá o có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ n gày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Sơn La;

- VKSND huyện Yên Châu;

- Công an huyện Yên Châu;

- Chi cục THADS huyện Yên Châu;

- Sở tư pháp tỉnh Sơn La;

- Trại giam;

- THAHS;

Nguyễn Thị Thanh Hường

- Các bị cáo

- Bị hại;

- Lưu: Hồ sơ, án văn.

Cỡ chữ