- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Quách Thị Lài - Phạm Văn Tuấn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Quách Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2018/HNGĐ-ST Ngày 30-8-2018 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Văn Lộc;
2. Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 08 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 439/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Quách Thị L, sinh năm 1988; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Tổ 10, ấp Bắc Bến Sỏi, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1983; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Tổ 10, ấp Bắc Bến Sỏi, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 05-6-2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị L trình bày:
Chị và anh Phạm Văn T tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009, nhưng đến ngày 03-01-2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn, nhưng anh T không chăm chỉ làm ăn, mà còn chơi cờ bạc gây nợ bên ngoài, từ đó vợ chồng xảy ra tranh cãi. Sau đó, anh T đưa hai con chung bỏ về nhà mẹ chồng chị ở Bắc Giang sống được khoảng hơn 01 năm thì đưa con vào Tây Ninh giao lại cho chị nuôi, còn anh T tiếp tục bỏ đi. Chị không biết anh T đi đâu, chỉ thấy thỉnh thoảng anh T về thăm con. Đến khoảng tháng 3/2018, anh T về lại Tây Ninh, mướn rưộng làm và ở nhờ trong nhà mẹ ruột chị cho đến nay.
Kể từ năm 2016, sau khi anh T bỏ đi và quay về, chị và anh T không hề nói chuyện với nhau, việc ai người đó làm. Đến năm 2018, anh T nộp đơn yêu cầu ly hôn chị tại Tòa án Châu Thành. Trong quá trình Tòa án giải quyết, anh T bị tai nạn, do cha mẹ anh T đều ở xa, không có ai chăm sóc nên chị phải vào Bệnh viện chăm sóc anh T, sau khi xuất viện anh T rút đơn về. Tuy nhiên sau đó vợ chồng anh chị vẫn không ai quan tâm nói chuyện với ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng nên chị yêu cầu được ly hôn anh Phạm Văn T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Phạm Quách Tuấn Duy, sinh ngày 11-5-2010 và cháu Phạm Quách Tuấn Hưng, sinh ngày 18-11-2011. Hiện cháu Duy và cháu Hưng đang sống cùng với chị. Do anh T không có nghề nghiệp, chỗ ở ổn định, người thân đều sống ở xa nên không có điều kiện để chăm sóc cho các con, còn chị có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hơn nữa chị sống chung với cha mẹ ruột nên cha mẹ chị sẽ phụ giúp chị chăm nom cho các con trong thời gian chị đi làm. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 06-7-2018, bị đơn anh Phạm Văn T trình bày:
Anh và chị L kết hôn với nhau từ năm 2012, sống chung đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nên anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh và chị Lài không hợp tính nên thường hay xảy ra gây gổ, cãi nhau. Năm 2016, anh bỏ về Bắc Giang sinh sống được một thời gian sau đó vào lại vào Tây Ninh, sống nhờ trong nhà cha mẹ ruột chị L. Năm 2017, anh nộp đơn ly hôn với chị L tại Tòa án nhưng sau đó anh rút đơn lại vì thấy vẫn còn tình cảm với chị L. Nay chị L làm đơn ly hôn, anh không đồng ý.
Đại diện VKSND huyện Châu Thành phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 19, 56, 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn anh T. Về nuôi con chung: Giao cháu Duy và cháu Hưng cho chị L trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Quách Thị L vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn, anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:
Về hôn nhân: Chị Quách Thị L và anh Phạm Văn T tổ chức đám cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 03-01-2012 (giấy chứng nhận kết hôn số: 01, quyển số: 01/2012) nên hôn nhân của chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày 03-01-2012. Sau một thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Từ năm 2016 đến nay, mặc dù có thời gian sống cùng nhau nhưng chị L và anh T không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Như vậy, anh T, chị L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luât hôn nhân và gia đình Tòa án chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh T.
Về nuôi con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là cháu Phạm Quách Tuấn Duy, sinh ngày 11-5-2010 và cháu Phạm Quách Tuấn Hưng, sinh ngày 18-11-2011. Chị L có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và có yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, còn anh T hiện không có nghề nghiệp và chỗ ở ổn định. Mặt khác, cháu Duy cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên căn cứ Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án giao cháu Duy và cháu Hưng cho chị L trực tiếp nuôi. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên cần ghi nhận.
Về án phí: Chị Quách Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu số 0018504 ngày 05 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Chị Quách Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn T.
2. Về nuôi con chung: Chị Quách Thị L trực tiếp nuôi con chung Phạm Quách Tuấn Duy, sinh ngày 11-5-2010 và Phạm Quách Tuấn Hưng, sinh ngày 18-11-2011. Anh Phạm Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Quách Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu số 0018504 ngày 05 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Châu Thành; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Phƣơng |