vanban.org

Bản án 79/2018/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Việt Á.

Buộc ông Huỳnh Hồng Kh, bà Huỳnh Thị Kim B phải liên đới trả cho Công ty Cổ phần Việt Á số tiền 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "ông Huỳnh Hồng Kh, bà Huỳnh Thị Kim B phải liên đới trả cho Công ty Cổ phần Việt Á số tiền 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai tr…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Việt Á.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2018/DS-ST
Ngày 31 - 5 - 2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Minh Triển

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký T a án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Châu Thành, t nh An Giang

tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở T a án nhân dân huyện Châu

Thành, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án đã thụ lý số 11/2017/TLST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST-DS ngày 26/4/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT Á

Do ông Nguyễn Nhựt H – Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công ty.

Địa chỉ: Số 54, Quốc lộ 54, ấp Tân Bình, xã Tân Th, huyện Lai V, tỉnh Đồng

Th.

Ông Nguyễn Nhựt H ủy quyền cho anh Nguyễn Chí Th – Nhân viên pháp

lý Công ty, theo giấy ủy quyền lập ngày 17/10/2016 (có mặt)

Địa chỉ: khóm Phú Hưng, thị trấn Cái Tàu H, huyện Châu Th, tỉnh Đồng

Th.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Huỳnh Hồng Kh, sinh năm 1947 (vắng mặt)

2.2. Bà Huỳnh Thị Kim B, sinh năm 1952 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 02, ấp Vĩnh Phúc, xã Vĩnh H, huyện Châu Th, An G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/10/2016, đơn khởi kiện bổ sung ngày

06/12/2016 và đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện ngày 10/02/2017 và tại phiên t a hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Chí Th trình bày:

Vào ngày 25/6/2015 ông Huỳnh Hồng Kh cùng vợ là bà Huỳnh Thị Kim B

có ký hợp đồng mua bán số: 19/2015-HĐMB-VA với Công ty Cổ phần Việt Á, để mua các loại thức ăn thủy sản với tổng số tiền là 30.521.250 đồng. Đến ngày 22/8/2015, ông Kh, bà Kim B tiếp tục ký hợp đồng mua bán số 32/2015-HĐMB-VA với Công ty Cổ phần Việt Á để mua hàng nhưng về số lượng và giá cả sẽ được tính cụ thể vào đơn đặt hàng của ông Kh, bà Kim B, nếu ông Kh, bà Kim B chậm thanh toán tiền mua hàng cho Công ty thì ông Kh, bà Kim B phải trả lãi suất quá hạn 1,0%/tháng cho Công ty. Trong quá trình mua bán giữa Công ty với vợ chồng ông Kh, bà Kim B thì ông Kh, bà Kim B chỉ thanh toán cho Công ty được số tiền là 50.000.000đ vào ngày 21/12/2015.

Đến ngày 31/12/2015, Công ty Cổ phần Việt Á với ông Huỳnh Hồng Kh

có đối chiếu công nợ thì ông Kh, bà Kim B c n nợ tiền hàng của Công ty số tiền vốn là 192.273.500đ. Ông Kh, bà Kim B hứa trả tiền cho Công ty nhưng không trả tiền cho đến nay.

Nay, Công ty Cổ phần Việt Á yêu cầu ông Huỳnh Hồng Kh, bà Huỳnh Thị

Kim B phải trả cho Công ty Cổ phần Việt Á số tiền mua thức ăn thủy sản c n nợ là 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng), xin rút lại yêu cầu, không yêu cầu tính lãi.

Đối với ông Huỳnh Hồng Kh, bà Huỳnh Thị Kim B: Sau khi thụ lý vụ án

Toà án nhân dân huyện Châu Th có tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông Kh, bà Kim B vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không nộp cho T a án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th, về việc tuân theo pháp

luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và đương sự là đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Ông Huỳnh Hồng Kh, bà Huỳnh Thị Kim B là bị

đơn trong vụ án đã được T a án nhân dân huyện Châu Th, tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Kh, bà Kim B vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Kh, bà Kim B theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 02 năm 2017 và tại

phiên t a hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Chí Th yêu cầu ông Kh, bà Kim B phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Công ty Cổ phần Việt Á một lần số tiền nợ gốc là 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng), xin rút lại yêu cầu, không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử, xét thấy tại phiên t a đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút lại yêu cầu, không tính lãi là không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, với có lợi cho phía bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận, không đặt ra xem xét.

Đối với quan hệ hợp đồng mua bán giữa Công ty Cổ phần Việt Á với ông

Kh, bà Kim B, trên thực tế có xảy ra, sự việc được chứng minh qua 02 hợp đồng mua bán số 19/2015-HĐMB-VA ngày 25/6/2015, hợp đồng số 32/2015-HĐMB-VA ngày 22/8/2015 và Bảng đối chiếu công nợ ngày 31/12/2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th: Đề xuất hướng giải quyết

vụ án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn 1 lần với số tiền mua thức ăn thủy sản là 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng) là hoàn toàn phù hợp.

Xét thấy, 02 hợp đồng mua bán số 19/2015-HĐMB-VA ngày

25/6/2015, hợp đồng số 32/2015-HĐMB-VA ngày 22/8/2015 và Bảng đối chiếu công nợ ngày 31/12/2015. Thể hiện chỉ có một mình ông Kh trực tiếp ký tên giao dịch mua bán thức ăn thủy sản với Công ty Cổ phần Việt Á. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho biết việc ông kh mua thức ăn thủy sản của Công ty đem về để nuôi cá gia đình, nhằm mục đích thu nhập, sinh hoạt cuộc sống cho gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, trong mối quan hệ hợp đồng mua bán phía bị đơn là người có lỗi, vì không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là trả nợ đúng hạn. Việc vi phạm này đã ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía nguyên đơn. Nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Kh, bà Kim B phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Công ty Cổ phần Việt Á một lần số tiền nợ gốc 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng) là hoàn toàn phù hợp.

Như vậy, nghĩ nên xác lập mối quan hệ tranh chấp trên. Buộc ông Huỳnh

Hồng Kh, bà Huỳnh Thị Kim B phải liên đới trả nợ cho Công ty Cổ phần Việt Á số tiền 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng).

Về án phí:

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Ông Kh, bà Kim B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Công ty Cổ phần Việt Á được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 428, 429, 438 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Việt Á.

Buộc ông Huỳnh Hồng Kh, bà Huỳnh Thị Kim B phải liên đới trả cho Công

ty Cổ phần Việt Á số tiền 192.273.500đ (Một trăm chín mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan

thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí:

Ông Kh, bà Kim B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty Cổ phần Việt Á được nhận lại số tiền 4.800.000đ tạm ứng án phí

đã nộp theo biên lai thu số 0000440 ngày 10 tháng 02 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Th, tỉnh An G.

Báo cho Công ty Cổ phần Việt Á có quyền kháng cáo bản án trong hạn

luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/5/2018). Ông Kh, bà Kim B có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ