- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phan K tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phan K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2017/HSST Ngày 07 tháng 11 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Toản
2. Bà Nguyễn Thị Tu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện HĐ, thành phố HN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại Nhà văn hóa thôn TL, xã TY, huyện HĐ, thành phố HN tiến hành xét xử sơ thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 78/2017/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Phan K, sinh năm: 1991 tại huyện HĐ, thành phố HN ; Chỗ ở hiện nay: Thôn TL, xã TY, huyện HĐ , Thành phố HN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: VN; Dân tộc: K; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Phan T và con bà: Nguyễn Thị X; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/01/2015 đi cai nghiện tự nguyện trong thời gian 03 (ba) tháng; Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 14/7/2017; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố HN.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố HN truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 14/7/2017 tại ĐTĐ thuộc thôn TN, xã DL, huyện HĐ, thành phố HN công an huyện HĐ bắt quả tang đối tượng Trần Phan K (Sinh năm 1991, trú tại: Thôn TL, xã TY, huyện HĐ, thành phố HN) đang có hanh vi tàng trữ trái phép 01 (một) túi nilon chất ma túy trong túi quần phía trước bên phải K đang mặc. K khai là ma túy đá do K mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt (BL 16-17).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) túi nilon màu trắng có kích thước 3x3 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (BL 16-17);
- 01 (Một) điện thoại di động Nokia, model 1661-2, mặt trước màu đen, không có lắp ốp lưng phía sau, bên trong có chứa thẻ sim viettel có số thuê bao: 0975677542 (BL 42);
Tại Bản kết luận giám định số 4537/KLGĐ-PC54 ngày 02/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN kết luận: Tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Trần Phan K là ma túy loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,013 gam (BL 46).
Quá trình điều tra làm rõ như sau: Khoảng 13 giờ ngày 14/7/2017, Trần Phan K đang ở nhà thì nhận được điện thoại của nam thanh niên tên T (K chỉ biết tên là T nhà ở SĐ, HĐ, HN) nhờ K mua ma túy về cho T, T sẽ sử dụng cùng, K đồng ý, T đồng ý ra quán nước ở ven đê TĐ thuộc thôn TN, xã DL, huyện HĐ, thành phố HN. Sau đó, K một mình từ nhà ở Thôn TL, xã TY, HĐ đi đến địa điểm T hẹn. Tại đây T đưa cho K 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và bảo K dùng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để “mua ma túy đá về sử dụng chung, còn 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cho K tiền đi xe ôm đi lấy ma túy (BL 29, 30,33), đồng thời cho K số điện thoại và bảo K đi ra khu vực cầu D gọi điện vào số điện thoại đó thì sẽ có người đàn ông bán ma túy cho K. K đồng ý cầm tiền và điện thoại T đưa cho rồi thuê xe ôm đi đến khu vực CD, quận NTL, thành phố HN. Khi tới nơi, K gọi điện thoại theo số điện thoại T đưa thì khoảng 15 phút sau có người đàn ông khoảng 27 tuổi cao 1,70 m, mặc áo mưa màu đen, đi xe máy màu đỏ đưa cho K 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, K nhận gói ma túy và đưa lại cho người đàn ông đó số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được số ma túy trên, K cất giấu túi ma túy đá vào trong túi quần phía trước, bên phải của K đang mặc rùi thuê xe ôm đi để gặp T. Khi đến quán nước ven đê TĐ thuộc thôn TN, xã DL, huyện HĐ, HN thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng số tang vật nêu trên.
Đối với nam thanh niên K khai tên T ở xã SĐ, huyện HĐ đưa tiền nhờ K mua hộ ma túy, cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ đã tiến hành xác minh, rà soát nhưng không có đối tượng nào tên T có đặc điểm như K khai. Do đó, không có căn cứ để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau (BL 52-53).
Đối với người đàn ông có đặc điểm khoảng 27 tuổi cao khoảng 1,70 m; mặc áo mưa màu đen, đi xe máy màu đỏ, đã bán ma túy cho Trần Phan K tại khu vực CD thuộc phần CD, quận NTL, HN vào ngày 14/7/2017; Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để xem xét, xử lý (BL51).
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HĐ, Trần Phan K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo K phù hợp với lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 17/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố HN đã truy tố Trần Phan K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Phan K từ 15 đến 18 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trần Phan K là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 13 giờ ngày 14/7/2017, sau khi được đối tượng T đưa số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhờ đi mua ma túy về cùng sử dụng thì Trần Phan K đến khu vực CD thuộc phường CD, quận NTL, thành phố HN gặp và mua được của người đàn ông không quen biết một túi nilon có kích thước khoảng 3x3 cm chứa ma túy Methamphetamine có trọng lượng 1.013 gam với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, K giấu ma túy trên người rồi thuê xe ôm về quán nước ven đê TĐ thuộc thôn TN, xã DL, huyện HĐ, thành phố HN để tìm gặp T thì bị lực lượng công an phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Hành vi của bị cáo là hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma tuý, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được hậu quả của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội; bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà bị cáo Trần Phan K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Trần Phan K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chất ma tuý là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương; tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo Trần Phan K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 30/01/2015, bị cáo đi cai nghiện tự nguyện trong thời gian 03 tháng. Bị cáo từng nghiện ma túy, từng đi cai nghiện, bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ và sử dụng ma túy thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự .
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài xã hội, mà cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù là có căn cứ; Do đó, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo phạm tội bị Viện kiểm sát truy tố theo khoản 1 Điều 194 có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi của bị cáo có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội cho bị cáo được quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.
Bị cáo Trần Phan K không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 228 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) túi nilon màu trắng có kích thước 3x3 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2, điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động Nokia, model 1661-2, mặt trước màu đen, không có lắp ốp lưng phía sau, bên trong có chứa thẻ sim viettel có số thuê bao: 0975677542 là công cụ bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy để tàng trữ, sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện HĐ, thành phố HN theo Quyết định xử lý vật chứng số 61/QĐ-VKS ngày 17/10/2017 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2017.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Phan K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Phan K 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2017.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 41Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là 01 (một) phong bì của Công an thành phố HN được niêm phong kín. Tại các mép dán niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Quân và đối tượng Trần Phan K.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 (Một) điện thoại di động Nokia, model 1661-2, mặt trước màu đen, không có nắp ốp lưng phía sau, bên trong có chứa thẻ sim viettel có số thuê bao: 0975677542.
Về án phí:
Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Phan K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 231 và 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND.TP.HN; - VKSND huyện HĐ; - Công an. H.HĐ; - Thi hành án dân sự huyện HĐ; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Lê Na |